Tôi rời khỏi Đà Lạt trong làn sóng di tản

Lời của Dự án 1975: Trong quá trình lưu trữ, nhóm Dự án quyết định giữ nguyên nội dung như khi đăng trên báo Chính Luận, bao gồm những lối dùng từ của miền Nam xưa mà ngày nay không còn thông dụng, và cả những sai sót chính tả hoặc lỗi đánh máy trong bản gốc.

“Tôi rời khỏi Đà Lạt trong làn sóng di tản” của Lê Hoàng là một bài ghi chép mang tính chứng nhân, thuật lại trải nghiệm cá nhân của tác giả trong những giờ phút cuối cùng trước khi Đà Lạt thất thủ. Bài in mà chúng ta còn tiếp cận được chỉ là phần mở đầu của câu chuyện; kỳ tiếp theo dự kiến đăng sau đó đã không còn dấu vết trong tư liệu lưu trữ, khiến phần kết bị bỏ ngỏ.

Bài được đăng trên trang ba báo Chính Luận số 15-4-1975.


Giờ đây, khi ngồi viết lại những giòng này tâm hồn tôi vẫn còn những xúc động mạnh, những luyến tiếc thật nhiều… Những xúc động bằng những hình ảnh mà chính tôi là nhân chứng hùng hồn nhất trong cuộc di tản và những luyến tiếc cho thành phố thơ mộng. Có lẽ những điều này sẽ không bao giờ xóa nhòa trong tâm tưởng tôi. Đàlạt đã cho tôi thật nhiều kỷ niệm, cho bất cứ ai nếu đã một lần đến thăm ắt đã có niềm vấn vương, lưu luyến! Đàlạt là quê hương thứ hai của tôi và niềm xúc động thật sâu xa: Bao giờ sẽ trở lại Đàlạt?

Tôi về đây đã hai ngày, hơi muộn đối với những người khác nhưng chính vì vậy mà tôi đã là một trong những người thành phố Đà Lạt sau cùng và tôi đã nhìn tận mắt, nghe tận tai tất cả những gì đã xảy ra trong cuộc di tản vĩ đại lịch sử này.

Thành phố Saigon – Những con đường Tự Do, Lê Lợi, Nguyễn Huệ… và dân Saigon đã tạo cho tôi. Ngay từ lúc bước chân đến – một sự cách biệt; một hình ảnh trái ngược và một tâm tư mâu thuẫn giữa chiến tranh và hòa bình!

Những ngày cuối cùng

Có thể nói thành phố Dalat là một thành phố hiền hòa và êm đềm nhất; đất Dalat là một nơi thiêng liêng nhất vì chính nơi đây, kể từ ngày là vùng đất nghỉ mát của quân đội viễn chinh Pháp, đến đất của Hoàng triều Cương thổ cho đến ngày nay, trải qua mấy chục năm chiến tranh Dalat cũng vẫn chưa một lần quá thăng trầm hay tiêu điều nhiều. Ngay đến biến cố Mậu Thân và mùa hè 72 Dalat cũng vậy chỉ bị ảnh hưởng rất ít và Dalat vẫn là Dalat của sự hiền hòa, êm ả của tất cả mọi người yêu tự do yêu êm thấm [?] và trầm lặng.

Ngày nay, cho đến giờ phút chót của cuộc di tản, Dalat vẫn ở trong trạng thái bình thường. Có thể nói trong thời gian qua Dalat Tuyên Đức là một tỉnh yên nhất trên toàn quốc, không bị đặc công quấy phá và đặc biệt nhất là không một tiếng súng nổ cho đến giờ phút chót ra đi.

Những ngày cuối cùng của Dalat đánh dấu bằng niềm tin hy vọng ở một vùng đất thiêng liêng của dân Dalat và bằng ý chí cương quyết bảo vệ thành phố thân yêu, thơ mộng cho tất cả mọi người, mặc dù đã có một số dân chúng thuộc thành phần khá giả đã đi xuống Nha Trang, Phan Rang hoặc Sàigòn để lánh nạn. Một Ủy ban Thông Tin Dân Vụ Tuyên Đức. Dalat được thành lập hoạt động hăng say nhằm mục đích trấn an và kêu gọi dân chúng trở về cố thủ Dalat.

Tất cả mọi hoạt động dân chúng vẫn bình thường, chưa có một dấu hiệu phát hiện hay áp lực nào của Cộng quân trên toàn lãnh thổ Tuyên Đức Đà Lạt. Tuy nhiên, trên phương diện phòng thủ vẫn được chính quyền phối trí mọi mặt.

Ngày 1-4 một ngày lịch sử của dân chúng Dalat.

Ngày 1-4 cũng là một ngày bình thường như những ngày khác mọi hoạt động không gì thay đổi, tình hình an ninh vẫn im lặng. Buổi sáng dân chúng vẫn tấp nập và đặc biệt là một số người đã bỏ Dalat đi về hướng Nha Trang cũng đã kéo trở về Dalat. Buổi chiều phiên họp cuối cùng của chính quyền địa phương về tình hình chung Tuyên Đức Dalat Đại Tá Nguyễn Hợp Đoàn Tỉnh Thị Trưởng vẫn khẳng định với các viên chức là quyết bảo vệ Dalat đến cuối cùng.

17g chiều chúng tôi, sau khi đi dự thính phiên họp để trở ra ngồi Café Mêkong đấu hót mãi cho đến 18 giờ mới trở về nhà.

Sau khi cơm chiều xong, lúc đó vẫn chưa gì biến chuyển.

19giờ45 một người bạn của tôi là Phường trưởng một trong 9 Phường Thị Xã, chạy đến đập cửa rầm rầm và báo tin: 

– Mầy thu xếp mau chạy gấp, chỉ 5 phút để sửa soạn, Đại Tá đã cho lệnh di chuyển. Chạy hướng Đơn Dương về Phan Rang rồi đi dần vào Saigon.

Hắn chỉ nói bấy nhiêu và dọt xe chạy luôn không kịp để cho tôi hỏi han gì nữa. Lúc bấy giờ tôi thật bàng hoàng như trên trời rớt xuống, tôi đi vội ra ngoài đường: các nhà chung quanh tôi đang ào ào kéo đi về phía bờ hồ. Tôi không còn suy nghĩ và tính toán gì hết, bởi vì trước đó tôi vẫn còn hy vọng Dalat sẽ yên, tôi chạy nhanh vào nhà chỉ kịp nhét vội mấy bộ áo quần trong chiếc xách Marin vứt lên xe và lùi xe ra đi. Hai thằng đàn em ở cùng xóm chạy lại xin đi. Thế là ba chúng tôi trực chỉ Hồ Xuân Hương. Hai bên đường lúc bấy giờ đã đầy nghẹt cả người, lớp đi xe, lớp đi bộ dắt nhau, níu nhau đi. Quang cảnh thật rộn rịp những chiếc xe hơi nối đuôi nhau chở đầy nhóc cả người. Những chiếc Honda chở ba, chở bốn… từng đoàn người đi bộ một cách vội vã

số dân Dalat chỉ kịp mang một vài xách tay áo quần còn gia sản sự nghiệp đều bỏ lại. Tất cả mọi người như hốt hoảng cố tranh nhau đi thật nhanh. Tôi lên đến ngã ba Nguyễn tri phương – đi Saigon và Nha Trang, đồng hồ chỉ 20 giờ kém 05. Tôi dừng xe lại.

Tôi xin nói rõ trong cuộc di tản này tôi đi bằng xe Jeep dân sự. Tôi đã nhìn lại Đalat một lần cuối sương mù và ánh đèn điện Đalat vẫn dửng dưng, Đalat vẫn lạnh nhưng người Đalat ra đi, tay bồng, tay xách, tay mang, tay nách đang dắt nhau đi tìm tự do. Giờ phút này chắc không ai để tâm đến sương mù, chắc không ai còn cảm thấy hơi lạnh của Dalat! Tôi nhìn lên phía tòa tỉnh, im lặng.

Phía Bộ Chỉ Huy CSQG/TĐ.DL [Cảnh sát Quốc gia Tiểu khu Tuyên Đức – Đà Lạt] lửa đang lên ngùn mà sau đó tôi được biết BCH/CS. QG/TĐ-DL [Bộ Chỉ huy Cảnh Sát Quốc Gia Tiểu khu Tuyên Đức – Đà Lạt] đã thiêu hủy hồ sơ trước khi di tản. Rồi những loạt đạn nổ chát chúa, lửa cháy phía Tiểu Khu… Chính quyền đã thiêu hủy số [đạn] dược còn lại và hồ sơ…

Từng đoàn xe qua mặt tôi, từng đoàn người đi bộ qua, hết lớp này đến lớp khác và cuối cùng là đoàn xe nhà binh của Tiểu khu Tuyên Đức, tôi nhập bọn với đoàn xe này và từ giã Dalat vĩnh viễn.

Ánh đèn xe chiếu sáng cả mặt đường. Từng những nét mặt hốt hoảng trên khuôn mặt của từng lớp người già có trẻ có, đi trong âm thầm, lầm lủi. Giờ này không biết họ đã nghĩ gì, chắc họ chỉ mong một điều: làm sao thoát mau khỏi Dalat kẻo VC đến. Những cảnh trước mặt tôi, những cụ già chống gậy cũng đi mà đi bộ, những bà đàn bà tay bồng tay bế; những đưa trẻ đi quanh nắm tay nhau thành hàng như để khỏi lạc nhau.

Những đứa trẻ mới lên 5, 6 đã vai cõng em bé độ 2, 3 tuổi chạy theo gia đình. Những ông già chống gậy, bà già lê từng bước một 2 tay không lầm lủi đi, đặc biệt là những đoàn người này họ đi trong im lặng không một ngoảnh mặt để nhìn Dalat lần chót.

Một đất nước chỉ trưởng thành khi lịch sử được ghi nhớ một cách trung thực và trọn vẹn.

Đó là lý do Luật Khoa thực hiện Dự án 1975, nhằm tái hiện lại năm 1975 qua những bản tin hàng tuần – theo báo chí miền Bắc, miền Nam và quốc tế, lời kể của nhân chứng từ cả hai phía của cuộc chiến.

Ủng hộ Quỹ Nghiên cứu Việt Nam Cộng hòa để Dự án 1975 tiếp tục lan tỏa.

Mỗi khoản đóng góp dù lớn hay nhỏ đều giúp ích cho các tác giả viết tiếp và làm sáng tỏ thêm phần lịch sử còn nhiều tranh cãi này của đất nước chúng ta.

Bình luận

Discover more from Luật Khoa 1975

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading