Luật báo: Ấn định lờ mờ, giải thích lơ mơ, thi hành tùy thích [Kỳ 1]

Lời của Dự án 1975: Trong quá trình lưu trữ, nhóm Dự án quyết định giữ nguyên nội dung như khi đăng trên báo Chính Luận, bao gồm những lối dùng từ của miền Nam xưa mà ngày nay không còn thông dụng, và cả những sai sót chính tả hoặc lỗi đánh máy trong bản gốc.

Trong bối cảnh phong trào đòi tự do báo chí gia tăng và Quốc hội liên tục bàn thảo nhưng chưa thống nhất việc sửa Luật Báo chí, bài viết của luật sư Nguyễn Ngọc Bích đăng trên Chính Luận tập trung phê phán điều 28a Luật Báo chí 19/69 – điều khoản về “an ninh quốc gia” được chính quyền sử dụng làm căn cứ tịch thu báo chí một cách tùy tiện. Mục tiêu của bài là đề xuất một tiêu chuẩn pháp lý rõ ràng, tiên đoán được, nhằm hạn chế sự suy diễn tùy tiện và bảo vệ vai trò thiết yếu của tự do báo chí trong một chế độ dân chủ.

Bài viết đăng trên trang hai tờ Chính Luận số 4-1-1975.


Chẳng đặng đứng trước phong trào đấu tranh đòi hỏi tự do dân chủ – đặc biệt là tự do báo chí và xuất bản – các dân biểu thân chinh đã biểu quyết mọi dự luật sửa đổi luật báo. Dự luật đó bị dư luận bác bỏ. Các nghị sĩ lại loay hoay sửa soạn một dự luật khác, cũng để sửa đổi luật báo. Chưa biết tới bao giờ luật được sửa và sửa như thế nào.

Bạn Nguyễn Ngọc Bích, một Luật sư trẻ – trẻ nhưng thận trọng như già – vừa gửi tới Chính Luận bài khảo luận đăng tải dưới đây về một điều duy nhất: điều 28 đoạn a (an ninh quốc gia) tức điều dựa trên đó chính quyền tha hồ tịch thu báo. Bài báo không nói thẳng nhưng cho hiểu về luật báo (điều quan trọng nhất của luật báo) tình trạng là: ấn định lờ mờ, giải thích lơ mơ và thi hành tùy thích.

Vì không phải người làm báo để nói rõ trong chăn còn lắm thứ rận kỳ quái, cũng không phải chính trị gia để đặt vấn đề báo chí và tự do vào đúng thứ tự ưu tiên của các vấn đề cấp thiết mà quốc gia phải lo liệu, tuy nhiên dù chỉ đứng ở vị trí chuyên môn của một luật gia, bạn Nguyễn Ngọc Bích cũng đã cống hiến bạn đọc các dữ kiện rất thực để có một cái nhìn về tình trạng pháp lý của chế độ báo chí hiện hành. Đó là điều quan trọng nhất xin gởi tới bạn đọc.

Vào trung tuần tháng 11, khi Hạ Nghị Viện thảo luận để chung quyết dự luật sửa đổi luật báo chí hiện hành, Hội Chủ Báo Việt Nam đã công bố lập trường của Hội về một vài vấn đề trong đó – ngoài các vấn đề khác – Hội đòi rằng các điều khoản về tịch thu báo chí phải theo đúng điều 12 của Hiến Pháp.

Nỗi ưu tư của Hội Chủ Báo đối với vấn đề tịch thu báo chí là một mối ưu tư sâu xa và có lý do. Thực vậy, gần đây có một vài tờ báo bị kiệt quệ tài chính chẳng phải là vì họ phải nạp bản, phải khai khi ra báo hay tại vì ấn loát hoặc phát hành mà là vì bị tịch thu liên tục: một sự tịch thu bắt nguồn hầu như từ một căn bản pháp lý được cơ quan chính quyền dùng – là “loan những tin tức có tác dụng làm phương hại đến nền an ninh Quốc gia vi phạm điều 28a Luật Báo Chí”.

Căn bản pháp lý mà cơ quan chính quyền dựa vào để tịch thu báo và đưa ra tòa là một căn bản vững chắc và không có gì phải bàn cãi, tuy nhiên cách thức suy luận để đạt đến căn bản đó chắc chắn còn phải mất nhiều giấy mực.

Hội Chủ Báo đã đưa ra lập trường là “các điểm danh dự cá nhân, an ninh quốc phòng, thuần phong mỹ tục và đề cao Cộng Sản phải được định nghĩa rõ ràng để tránh suy diễn chủ quan của người thi hành luật” và trọng điểm an ninh quốc phòng, Hội đã định nghĩa: “tiết lộ các bí mật quân sự hoặc loan tin thất thiệt về chiến trường”.

Hòa điệu với cố gắng của Hội Chủ Báo, để củng cố cho tính cách “ổn cố nhưng tiên đoán được” của luật pháp, và trong khung cảnh sửa soạn ban hành luật báo chí mới của Quốc Hội, bài này nhằm đề nghị một tiêu chuẩn để định xem khi nào loan tin có tính cách làm phương hại đến nền an ninh quốc gia, hoặc “chất thử” để biết được khi nào an ninh quốc gia bị báo chí vi phạm để mà – theo tiếng nhà báo – “lách” hoặc để trừng phạt.

An ninh quốc gia nói ở đây là an ninh được dự liệu trong điều 28a Luật Báo Chí 19/69 và chỉ điều này được thảo luận. Điều 28a được chọn vì tính cách mông lung của nó, vì hậu quả kinh tế của nó đối với báo chí một khi bị vi phạm và cuối cùng vì vai trò của nó trong những biến cố gần đây.

Tìm tiêu chuẩn cho một cái gì vốn mông lung thì trước hết phải tìm để xác định nội dung và giới hạn của nó căn cứ vào các luật lệ hiện hành. Sau đó phải tìm xem hiện nay việc làm phương hại an ninh quốc gia được xác định như thế nào và cuối cùng đề ra tiêu chuẩn. Tuy nhiên trước khi đưa tiêu chuẩn phải xét tới các yếu tố mà tiêu chuẩn đó phải thích ứng hay khung cảnh mà nó sẽ tồn tại. Khung cảnh hiện thời của chúng ta là một khung cảnh như Hiến Pháp qui định “chủ quyền quốc gia thuộc về toàn dân”, do đó tiêu chuẩn đưa ra sẽ phải làm sao phù hợp với khung cảnh này. Điều đó có nghĩa là trước khi đưa tiêu chuẩn phải xét xem trong một chế độ dân chủ tự do, báo chí nắm vai trò gì, và vì đâu mà nó bị hạn chế. Trong cách sắp xếp đó bài này sẽ có năm phần: (1) nội dung pháp lý của an ninh quốc gia, (2) tiêu chuẩn hiện thời xác định việc làm phương hại an ninh quốc gia; (3) vai trò của tự do báo chí trong một chế độ Dân Chủ; (4) các động lực thúc đẩy sự hạn chế tự do báo chí và (5) tiêu chuẩn hay chất thử đề nghị.

I. Nội dung pháp lý của an ninh quốc gia

    An ninh quốc gia là một ý niệm đã được xử dụng nhiều trong lãnh vực báo chí. Phải chăng vì nó mơ hồ nên được xử dụng nhiều hay vì được dùng nhiều nên trở thành mơ hồ, câu hỏi đó còn cần nhiều giấy mực. Tuy nhiên sự xử dụng nhiều, dù không bừa bãi đi nữa, tạo ra một sự cần thiết phải tìm xem trong các văn kiện pháp lý hiện hành an ninh quốc gia là gì và gồm những gì.

    Trong lãnh vực báo chí, an ninh quốc gia được đề cập  trong điều 27b và 28a của Luật Báo Chí 19/69 ban hành ngày 30/12/69 (từ đây sẽ gọi là luật 19/69). Các điều này – và cả bộ luật – là một sự chi tiết hóa điều 12 của Hiến Pháp trong đó an ninh quốc gia được gọi là an ninh quốc phòng. Sắc luật báo chí bổ túc 007/72 và dự luật tu chính mới đây vẫn giữ nguyên các điều vừa kể của luật 19/69.

    Trong các văn kiện pháp lý hiện hành, an ninh quốc gia được dự liệu trong: Dụ số 47 ngày 21/8/1956, Luật số 10/59 ngày 6/5/1959, Dụ số 1/65 ngày 24/6/1965, Sắc luật 4/65 ngày 19/7/65, Luật số 10/68 ngày 5/11/1968, Sắc luật số 04-TT/SLU ngày 15/7/1972, Sắc luật 05/TT-SLU ngày 25/7/1972 và Bộ Hình luật ban hành ngày 20/12/1972 các điều từ 108 đến 135. Ngoài các văn kiện vừa kể còn có các văn kiện bổ túc, tuy nhiên các văn kiện này không nhất thiết định tội danh mới mà chỉ gia giảm các điều khoản đã được dự liệu trong các văn kiện chính. Việc xác định nội dung của an ninh quốc gia, vì thế, sẽ chỉ căn cứ trên các văn kiện nguyên thủy mà thôi. 

    Nếu sắp xếp tất cả các tội danh được qui định trong các văn kiện vừa nêu theo mẫu tự để gạt bỏ các tội được qui định trùng hợp, sau đó xếp chúng theo đối tượng hay hành vi bị cấm chỉ hay được bảo vệ thì an ninh quốc gia có tám loại dưới đây:

    Thứ nhất là nền kinh tế. Nền kinh tế được bảo vệ do sự ngăn ngừa sự tích trữ trái phép; làm rối loạn chính sách về vật giá; gây trở ngại sự phân phối hàng hóa; tăng giảm giá cả; tồn trữ bất hợp pháp hàng hóa trong hoạt vực quan thuế; khai man số tồn trữ; xuất nhập cảng vàng; xuất nhập cảng những hàng hóa bị cấm chỉ; làm gián đoạn lưu thông; phá phiên chợ; không cho nhóm chợ; phao truyền tin thất thiệt làm xáo động nền kinh tế.

    Thứ hai là chủ nghĩa Cộng Sản. Chủ nghĩa này bị cấm chỉ do sự cấm đoán các hành vi gia nhập đảng Cộng Sản chống lại quốc gia, phổ biến trực tiếp hay gián tiếp chính sách hay khẩu hiệu của cá nhân, hay tập thể do Cộng Sản chi phối: làm các hành vi có tác dụng làm suy yếu ý chí chống Cộng của quốc gia; phổ biến, bày bán các ấn phẩm tranh ảnh có tác dụng cổ võ cho chủ nghĩa Cộng Sản.

    Thứ ba là lao động. Lãnh vực này được đề cập do sự cấm chỉ các sự giải công, đình công: xúi dục giải công hay đình công.

    Thứ tư là của công. Công sản được bảo vệ do sự cấm chỉ các hành vi phá hủy bằng chất nổ, nhà ở, công ốc, của cải nhà nước, tàu, hầm mỏ, khí giới, dụng cụ mùa màng, hoa màu, hệ thống truyền tin, sông, đê điều.

    Thứ năm là nội chiến. Tai họa này được đề phòng bởi sự cấm chỉ các hành vi chiêu mộ binh lính, phát đạn, tàng trữ xử dụng vũ khí chất nổ nổi loạn hay xúi giục những người có võ trang nổi loạn, cung cấp vũ khí mà không có lệnh của chính quyền; tự ý nắm giữ một trung đội, chiến thuyền, phi đội, một hải cảng hay thành phố mà không có quyền hay lý do chính đáng.

    Thứ sáu là cá nhân hay người công dân. Người công dân bị cấm không được cố sát, đầu độc, bắt cóc, làm côn đồ, cướp, chiếm, tấn công, hăm dọa, ám sát, đốt nhà, hối lộ, kháng cự nhân viên công lực, hối mại quyền thế; không trình diện khi nhận được lệnh gọi nhập ngũ cá nhân hay tập thể; hủy hoại thân thể; xử dụng thông hành giả; hủy hoại quốc kỳ hay biểu tượng uy quyền quốc gia.

    Thứ bảy là chính phủ. Chính phủ được bảo vệ bởi sự cấm chỉ các mưu hại nhằm hủy diệt hay thay đổi chính phủ hoặc xúi giục dân chúng võ trang chống lại chính phủ.

    Nằm trong lãnh vực này có các tội: tổ chức xúi giục biểu tình; tàng trữ ấn loát phẩm xét có hại cho an ninh quốc gia; tàng trữ vũ khí; gây rối loạn chính trị; xách động sinh viên, quần chúng: học sinh bãi khóa, biểu tình.

    Thứ tám là nền an ninh quốc ngoại. Nền an ninh quốc ngoại được bảo vệ bởi sự trừng phạt các tội làm gián điệp; giao nạp cho ngoại bang một phần lãnh thổ, tài sản, của cải quốc gia; xúi giục đào ngũ, chiêu mộ binh lính cho ngoại quốc; tiết lộ bí mật quốc phòng; phá hoại xe cộ, tàu bè, làm nội tuyến, do thám, làm mất chủ quyền.

    Với tám loại hành vi hay đối tượng nêu trên, các hành vi liên quan đến kinh tế và đề cao chủ nghĩa CS đã được dự liệu riêng biệt trong điều 28b và điều 29 của luật 19/69, do đó lãnh vực của an ninh quốc gia theo điều 27b và 28a bao gồm sáu loại hành vi bị cấm chỉ còn lại. Căn cứ vào tên của các văn kiện, thiết định các tội danh vừa kể ta có thể lập luận rằng an ninh quốc gia cũng là, hay bao gồm, trật tự công cộng, và an ninh quốc gia không bị vi phạm khi không có ai làm hay vi phạm những hành vi bị cấm chỉ. Sự lập luận này đưa đến các hệ luận là (1) phải có làm hay thực hiện những hành vi bị cấm chỉ – và chỉ có những hành vi đó thôi – thì mới làm phương hại đến an ninh quốc gia (2) an ninh quốc gia, nhìn như thế, đã được cụ thể hóa bằng các hành vi bị cấm đoán. Với các lập luận và hệ luận đó, an ninh quốc gia đã có một giới hạn và đã trở thành một cái gì hình dung được.

    Xác định được như vậy rồi, giờ đây có thể đi sang phần thứ hai tìm xem các cơ quan trách nhiệm đương thời đã đưa ra một tiêu chuẩn nào, để xác định hay phủ định một hành vi làm phương hại an ninh quốc gia do báo chí vi phạm.

    Một đất nước chỉ trưởng thành khi lịch sử được ghi nhớ một cách trung thực và trọn vẹn.

    Đó là lý do Luật Khoa thực hiện Dự án 1975, nhằm tái hiện lại năm 1975 qua những bản tin hàng tuần – theo báo chí miền Bắc, miền Nam và quốc tế, lời kể của nhân chứng từ cả hai phía của cuộc chiến.

    Ủng hộ Quỹ Nghiên cứu Việt Nam Cộng hòa để Dự án 1975 tiếp tục lan tỏa.

    Mỗi khoản đóng góp dù lớn hay nhỏ đều giúp ích cho các tác giả viết tiếp và làm sáng tỏ thêm phần lịch sử còn nhiều tranh cãi này của đất nước chúng ta.

    Bình luận

    Discover more from Luật Khoa 1975

    Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

    Continue reading