Lời của Dự án 1975: Trong quá trình lưu trữ, nhóm Dự án quyết định giữ nguyên nội dung như khi đăng trên báo Chính Luận, bao gồm những lối dùng từ của miền Nam xưa mà ngày nay không còn thông dụng, và cả những sai sót chính tả hoặc lỗi đánh máy trong bản gốc.
Trong bối cảnh phong trào đòi tự do báo chí gia tăng và Quốc hội liên tục bàn thảo nhưng chưa thống nhất việc sửa Luật Báo chí, bài viết của luật sư Nguyễn Ngọc Bích đăng trên Chính Luận tập trung phê phán điều 28a Luật Báo chí 19/69 – điều khoản về “an ninh quốc gia” được chính quyền sử dụng làm căn cứ tịch thu báo chí một cách tùy tiện. Mục tiêu của bài là đề xuất một tiêu chuẩn pháp lý rõ ràng, tiên đoán được, nhằm hạn chế sự suy diễn tùy tiện và bảo vệ vai trò thiết yếu của tự do báo chí trong một chế độ dân chủ.
Bài được đăng trên trang hai báo Chính Luận số 8-1-1975.
IV. Những động lực giới hạn tự do báo chí.
Một điều dễ thấy là báo chí bị giới hạn vì có luật buộc như vậy. Luật này bắt nguồn từ đâu, một sự tìm tòi để trả lời sẽ cho thấy năm nguồn gốc làm cho điều luật kia thành hình. Nói một cách khác, sự hạn chế tự do báo chí bị thúc đẩy bởi năm động lực.
Thứ nhất trên phương diện tâm lý ít ai muốn nghe cái gì trái tai. Do đó trong xã hội lúc nào cũng có một áp lực mạnh mẽ buộc mọi người không được nói hay phải từ bỏ các lời nói hay cử chỉ vượt ra ngoài khuôn khổ. Sự không muốn nghe cái gì trái tai được John Stuart Mill giải thích như là một sự muốn có quyền hành.
Động lực thứ hai thúc đẩy sự hạn chế là cá tính lệ thuộc vào quyền hành của một số người. Khi một căn bản, một niềm tin nào bị chỉ trích, sự chỉ trích làm những người vừa kể lo ngại. Vì lúc nào cũng cần có một sự chắc chắn nên sự chỉ trích đối với họ là một sự đe dọa an ninh của chính họ. Bởi đó họ sẽ phản ứng, các phản ứng sẽ mang tính chất tình cảm và thúc đẩy họ phải làm cái gì để tiêu diệt mầm móng tai họa đó đi, khi đó họ cầu cứu đến chính quyền. Phụ thêm vào nỗi lo sợ đó, các người bất đồng ý kiến khi phát biểu cảm tưởng, thường cảm thấy phải nói to lập trường của mình, hay bị một động lực nội tâm thúc đẩy phải làm sao lay chuyển được trật tự đang có. Do đó, khi phản đối họ mất đi cái lịch sự từ tốn thông thường.
Động lực thứ ba cũng có tính cách tâm lý là thái độ của những người đã có hay đang nắm giữ một quyền lợi. Vì đã có nên họ phải duy trì và tìm cách bảo vệ. Phương cách họ dùng là dập tắt các ý tưởng mới vốn có thể làm thay đổi cái lợi thế của họ.
Ngoài ra, đối với những người đòi tự do ngôn luận thì chính họ cũng không muốn cho người khác được phát biểu ý kiến như họ. Nói cách khác, họ có khuynh hướng chèn ép các nhóm dư luận khác. Đó là động lực thứ tư thúc đẩy sự hạn chế tự do báo chí.
Động lực thứ năm là các nhân viên nằm trong bộ máy chính quyền kiểm soát báo chí. Những người này có khuynh hướng theo đuổi nhiệm vụ một cách nhiệt thành. Lý do giải thích sự nhiệt thành của họ là sự làm việc như thế tạo việc làm cho họ và sự tồn tại của họ tùy thuộc vào công việc và thành tích hoạt động của họ. Thành tích của họ được đo bằng sự kiểm soát chặt chẽ báo chí. Ngoài sự nhiệt thành đó, những người thực sự phụ trách kiểm soát báo chí là những người cấp bậc không cao, trong vị trí đó họ tuân theo luật một cách cứng nhắc, lo sợ cấp trên, và bị áp lực nên lúc nào họ cũng cảm thấy giới hạn báo chí càng nhiều càng tốt.
Các động lực vừa kể giải thích nguyên do sâu xa của các sự hạn chế tự do báo chí thể hiện qua “bộ áo” luật pháp.
Với khuôn khổ của an ninh quốc gia đã được xác định, với những lợi ích mà một nền tự do báo chí mang lại, và nguyên do của các sự hạn chế báo chí, dữ kiện đã có đủ để có thể đưa ra một tiêu chuẩn trước khi kết luận.
V. Tiêu chuẩn hay “Chất thử” đề nghị.
Như đã nói ở trên, tiêu chuẩn đưa ra ở đây sẽ chỉ là tiêu chuẩn để áp dụng với điều 28a luật báo chí mà thôi. Điều 27b đã rõ ràng không cần phải bàn thêm chi nữa.
Trở lại vấn đề, tự do hay hạn chế báo chí là một cuộc tranh đấu giữa hai lực lượng chống đối nhau, và hai đối lực đó đều nhằm bảo vệ một giá trị của xã hội.
Nếu bảo rằng tự do báo chí đem lại cho xã hội được nhiều mối lợi thì cũng có câu hỏi rằng tại sao lại có cơ cấu chính quyền hiện diện trong một xã hội. Bởi vậy đi tìm tiêu chuẩn là cắt bớt của mỗi bên một số quyền lợi để đưa ra một cái gì hợp lý hầu dung hòa một cái mới – tự do báo chí – và một cái cũ – trật tự quốc gia.
Điểm căn bản phải nêu là chế độ mà trong đó chúng ta đang sống và cho nó chúng ta đang bảo vệ là một chế độ – được Hiến Pháp qui định – dân chủ, trong đó quốc gia tôn trọng – ngoài các quyền khác – quyền tự do báo chí. Sự nhìn nhận quyền đó một cách long trọng trong Hiến Pháp hẳn đã xác nhận hùng hồn rằng chế độ sẽ không còn là dân chủ nếu quyền đó bị vi phạm. Từ tiền đề căn bản có thể đòi hỏi và cổ võ cho một lý thuyết rằng tự do báo chí cần phải được bảo vệ tối đa, và nếu phải giới hạn thì sẽ chỉ giới hạn vào những gì đang bị ngăn cấm.
Trong lãnh vực an ninh quốc gia cái gì bị ngăn cấm? Câu trả lời chắc chắn và có căn bản pháp lý là những gì mà các bản văn pháp lý liên hệ đến an ninh quốc gia đã dự liệu có nghĩa là sáu loại đối tượng hay hành vi bị pháp luật bảo vệ hay ngăn cấm, như đã liệt kê ở phần một. Điều tìm được qua các hành vi và đối tượng đó là chúng là những hành động. Quốc gia trừng phạt những hành động và những hành động bị trừng phạt.
Sự chỉ trừng phạt hành động của quốc gia cho phép suy diễn ra là quốc gia không trừng phạt lời nói, ít ra là trong lãnh vực an ninh quốc gia. Điều vừa tìm thấy có thể giúp tìm ra tiêu chuẩn để xử dụng cho tự do báo chí trong lãnh vực an ninh quốc gia. Đó là phải phân biệt “lời nói” và “việc làm”.
Sự phân biệt này cần thiết vì trước hết – không cần phải dài dòng – nói thì dễ làm thì khó, nói một đàng làm một nẻo và từ đó cái được nói chưa chắc chắn đã là cái được làm.
Thứ nữa, an ninh quốc gia – như đã được cụ thể hóa ở trên – là hành động hay “việc làm” còn tự do ngôn luận hay tự do báo chí trong bản chất là “lời nói”!
Thực vậy, có bao giờ những dòng chữ trên các trang báo nhẩy xuống đường xếp hàng với nhau đi biểu tình? Có bao giờ một tờ báo đi làm côn đồ? Hay phá nổ công sản? Đi biểu tình, làm côn đồ, phá nổ công sản là những hành động vi phạm an ninh quốc gia và bị trừng phạt.
Báo chí như thế chỉ “nói” mà thôi, họ không “làm”, mà nói – như đã trình bày ở trên – khi được xử dụng tối đa, làm lợi cho chế độ dân chủ và cho con người.
Nói như vậy phải chăng là chủ trương cho tự do phát biểu mà không cần một hạn chế nào chăng? Không, tiêu chuẩn cho tự do báo chí trong lãnh vực an ninh quốc gia không dừng lại ở đây. Báo chí bị trừng phạt không phải tại vì nó đã làm mà là vì tính cách phổ biến của nó. Có những tội mà một người làm không bị trừng phạt nhưng báo chí làm thì bị. Tội phạm báo chí, trong bản chất có tính cách ngăn ngừa.
Vấn đề đặt ra bây giờ là ngăn ngừa ở chỗ nào, sớm quá thì là “đàn áp” mà muộn quá là “hết thuốc”. Nói một cách khác, trong lãnh vực an ninh quốc gia khi báo chí hành động đến mức độ nào – trong sự xử dụng tự do của họ – thì phải bị ngăn cấm hay bị trừng phạt?
Trả lời câu hỏi tức là đưa ra tiêu chuẩn. Tiêu chuẩn ở đây là tiêu chuẩn đưa ra sau khi đã xác định lãnh vực pháp lý của an ninh quốc gia, tìm ra được là quốc gia – trong lãnh vực an ninh – trừng phạt những hành động, là phải phân biệt giữa “lời nói” và “việc làm”, là tội phạm báo chí có tính cách ngăn ngừa. Phối hợp tất cả các yếu tố đó lại và đặt trong khung cảnh của những gì đã được trình bày trong các phần Hai, Ba và Bốn thiết tưởng có thể đề nghị một tiêu chuẩn như thế này:
Báo chí được tự do phát biểu đăng tải cái gì họ muốn, tuy nhiên tự do đó bị ngăn chặn khi nó làm phát sinh một hành động mà hành động này làm phương hại nền an ninh quốc gia. Nói một cách khác, báo chí phải bị hạn chế khi đăng tải hay phát biểu những điều khiến người đọc vì đó có thể làm hành động có phương hại đến an ninh quốc gia. Nói một cách khác, báo chí phải bị hạn chế khi đăng tải hay phát biểu những điều khiến người đọc vì đó có thể làm một hành động có phương hại đến an ninh quốc gia.
Thế nào là một lời nói hay một sự phát biểu có thể làm nẩy sinh một hành động? Thí dụ sau cho thấy câu trả lời: trong một rạp chiếu bóng, mọi người đang chăm chú theo dõi, bỗng có một tiếng la “cháy”. Tiếng la đó là lời nói làm nảy sinh hành động.
Sự thẩm định “lời nói làm nẩy sinh hành động” tại một quốc gia đặc biệt như VN đòi hỏi một sự phân biệt khung cảnh thời chiến và khung cảnh thời bình. Thí dụ trong thời bình thì chỉ khi nào lời nói chắc chắn 100 phần trăm làm phát sinh hành động thì mới bị trừng phạt. Nhưng tỷ lệ bách phân lại không thể áp dụng cho thời chiến. Thí dụ không thể nói rằng thời chiến chỉ cần lời nói chắc chắn 50% làm phát sinh hành động là đã bị trừng phạt rồi. Tỷ lệ ấy sẽ được chính quyền và báo chí suy diễn khác nhau (chính quyền có thể bảo đã tới 50% rồi, trong khi báo chí thì nói là chưa tới)
Một tiêu chuẩn mà mơ hồ như vậy thì chỉ càng tạo thêm cơ hội và điều kiện cho sự lạm dụng. Thiết tưởng thời chiến ở nước nào cũng có những luật riêng cho thời chiến, vậy tại VN, thí dụ năm 1972, tình thế nguy kịch thì phải có hẳn một đạo luật đặc biệt về báo chí để đối phó với tình thế ấy, nhưng đạo luật ấy phải được hạn chế rõ rệt về giới hạn luận tội, không thể để sự tùy nghi và cũng phải hạn định về thời gian có hiệu lực, không thể cứ kéo dài vô hạn định cái hiệu lực ấy cho một tình thế không còn thật sự nguy kịch như lúc đầu nữa.
Rõ rệt hơn nữa, tại sao không áp dụng chế độ kiểm duyệt khi Tổ Quốc lâm nguy nếu quả đó là điều không còn tránh được. Duy trì một “tính chất dân chủ biểu kiến” để rồi tùy hứng giải thích luật báo chí là việc nên tránh. Năm 1972, nếu VNCH trở lại chế độ kiểm duyệt vào lúc nào đó thì chắc chắn đã tránh được rất nhiều điều đáng tiếc trong tương quan chính quyền và báo chí.
Trình bày theo một lối khác, khi phải quyết định có nên trừng phạt một tờ báo theo điều 28a hay không, cơ quan trách nhiệm sẽ (1) đặt câu hỏi khi loan tin đó tờ báo có làm phát sinh bất kỳ một hành động nào bị các luật lệ về an ninh quốc gia ngăn cấm hay không, và (2) sự có thể xẩy ra có thể lên tới bao nhiêu phần trăm. Dĩ nhiên bách phân xuất này đã phải được công bố. Chỉ khi nào trả lời câu hỏi đó thì mới hành động. Nhìn như vậy, tiêu chuẩn chính là một “chất thử”. Một chất thử khoa học, có căn bản pháp lý và có ý nghĩa.
Với tiêu chuẩn đó chắc chắn sẽ có những lo ngại rằng như thế, báo chí được tự do quá và làm sao để duy trì trật tự được.
Đối với các nỗi lo ngại đó có thể trả lời: thứ nhất quốc gia hay chính quyền cũng có những phương tiện để hóa giải cái gì báo chí nói. Hơn nữa, cường độ và vị trí gây ảnh hưởng của chính quyền mạnh mẽ hơn cường độ và vị trí mà báo chí có thể có.
Thứ hai, quyền trừng phạt của chính quyền (quốc gia) – trong lập luận này có thể thấy như sau: Nếu một tờ báo loan một tin có tính cách khích động – mà theo tiêu chuẩn vừa nêu – có thể tạo nên một cuộc biểu tình. Đối với tin loại đó, chính quyền có thể áp dụng điều 28a cho tờ báo. Biện pháp này có tính cách đề phòng.
Nếu chính quyền không áp dụng điều đó, mà để cho tờ báo phát hành, thì nếu sau khi đã phát hành mà có một cuộc biểu tình xảy ra thực sự, thì lúc đó chính quyền sẽ chiếu luật hình trừng phạt người biểu tình như chính phạm và tờ báo như đồng lõa. Đồng lõa – theo luật hình – bị phạt như chính phạm.
Thứ ba, khi Hiến Pháp qui định và tôn trọng dân chủ thì ít ra phải có dân chủ trên thực tế. Mối nguy hại có thể xẩy ra là cái giá phải trả cho chế độ dân chủ là chế độ đã được chọn lựa.
Cuối cùng, không một xã hội nào có một nền an ninh tuyệt đối. Hơn nữa, kinh nghiệm cho thấy nhiều khi mối nguy hiểm chỉ là một sự tưởng tượng, và sự đàn áp chỉ gây hại cho sự an sinh nhiều hơn là làm lợi.
Kết luận
Trong cục diện của một cuộc tranh đấu đã kéo dài, trong khung cảnh của một sự sửa soạn thay đổi cái gì đã được nhìn nhận là cứng rắn, và trong các cố gắng đi tìm một cái gì có tính cách khoa học, vững chắc, hợp pháp, và hợp lý; việc đề nghị một tiêu chuẩn để dùng trong một lãnh vực mông lung thiết tưởng thật đúng lúc.
Tiêu chuẩn đó có được áp dụng trên thực tế hay không còn tùy thuộc nhiều yếu tố khác. Tuy nhiên một sự áp dụng trên điều kiện pháp lý, nghĩa là trên lý thuyết sẽ tạo ra một sự áp dụng trên thực tế. Vì thế, trong dự luật về báo chí đang được thảo luận điều 28a của luật 19/69 nên được sửa như sau:
“Không được dùng báo chí để phổ biến các luận điệu, các tin tức thất thiệt, hoặc cố ý thổi phồng hay xuyên tạc các tin tức có thật nhằm gây ra một trong những tác dụng sau đây:
- Làm nẩy sinh một hành động mà do hành động này nền an ninh quốc gia hay trật tự công cộng bị phương hại”.
Một cái gì được bảo vệ phải là một cái đáng được bảo vệ.


Bình luận