Hình chụp Teresa Luna được đăng trên trang 21 tờ Waco Tribune-Herald số 17-8-1975. [1]
Ngày thứ 15 của tháng Tư, Sài Gòn vẫn lại đón bình minh như bao ngày. Những làn khói ô nhiễm từ hàng hàng lớp lớp những chiếc xe máy Honda và xích lô vẫn chưa được thải ra.
Ngày hôm nay có lẽ sẽ vẫn là một ngày vô cùng oi bức đúng kiểu “Sài Gòn”, khi mà thành phố vẫn đang trong mùa khô.
Một chiếc máy bay hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn Nhứt. Giữa những du khách của chiếc phi cơ ấy, bừng lên vẻ cuốn hút của một phụ nữ với những nét đẹp lai giữa Á và Âu. Tên cô là Teresa Luna.
Câu chuyện về cách thức và lý do đưa cô đến đây, cùng những gì mà cô đã làm, đã trở thành một trong những vở bi kịch được diễn trên phông nền những ngày hấp hối cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa.
Teresa Luna sinh ra và lớn lên ở Việt Nam. Cô là quả ngọt tình yêu giữa một chàng trai người Ý lãng mạn và một cô gái Việt Nam nhỏ nhắn. Cha mẹ cô là chủ của một khu vườn cà phê màu mỡ gần thành phố cao nguyên Ban Mê Thuột. […]
Khi Teresa rời khỏi Việt Nam, cô bỏ lại sau lưng một đại gia đình gồm mẹ cô, hai chị em gái, một anh trai, bà ngoại cô cùng các cô, dì, chú, bác, anh chị em họ, không thể kể hết. Chuyến trở về Việt Nam gần nhất của cô là một chuyến công tác nhằm giải quyết những công việc liên quan đến đồn điền và bất động sản của cha cô sau khi ông qua đời vào cuối năm 1974.
Khu vực chung quanh đồn điền cà phê của nhà Teresa là một khu vực tranh chấp dai dẳng giữa Cộng quân và chính quyền Sài Gòn. Cũng như nhiều khu vực khác, vùng đất này cũng là nơi “ngày quốc gia, đêm cộng sản”.
Chung quanh đồn điền cà phê cũng là khu dân cư đông đúc cuối cùng của phía Tây Ban Mê Thuột, một thành phố với dân số khoảng 25 nghìn. Nằm giữa khu vườn và biên giới với Campuchia không có gì khác ngoài một khu rừng rậm nhiều tầng tán – nơi hoàn hảo để lính Bắc Việt và Việt Cộng có thể nghỉ ngơi, nhận tiếp viện, và tổ chức những trận đánh du kích nhắm vào quân đội Nam Việt và quân đồng minh Mỹ.
Hồi tháng Ba, chính khu vực rộng lớn này là nơi bắt đầu cuộc tổng tiến công đã được lên kế hoạch từ lâu nhắm vào miền Nam Việt Nam. Đợt tiến công đầu tiên đánh vào Cao nguyên Trung phần với mục tiêu khi đó là chia cắt miền Nam ra làm hai nửa, một mục tiêu mà những chiến lược gia quân sự của Hà Nội đã khao khát đạt được từ lâu, và cũng là mục tiêu mà họ đã thất bại nhiều lần.
Nhưng lần này thì lại khác, Ban Mê Thuột đã là thành phố đầu tiên rơi vào tay cộng sản, và sau đó bị cắt đứt hết mọi liên lạc với bên ngoài. Đồn điền nhà Teresa cùng gia đình cô được cho là cũng sẽ chịu chung số phận.
“Khi tôi nghe tin Ban Mê Thuột đã mất, tôi hiểu rằng gia đình tôi đã cùng đường sống”, Teresa cho biết.
“Cha tôi đến Việt Nam năm ông 17 tuổi và dựng nên đồn điền đó từ mảnh đất rừng mà chẳng ai thèm ngó tới. Để rồi giờ đây tất cả những gì mà ông cùng gia đình xây dựng cuối cùng cũng đổ sông đổ biển sau 30 năm chiến tranh.”
Nỗi lo đầu tiên xuất hiện trong tâm trí Teresa, dĩ nhiên, là dành cho mẹ cô và gia đình cô. “Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra với họ. Tôi đã sợ rằng họ có thể đã bị bắt giữ và thậm chí là bị giết,” cô nói.
Chỉ trong vài ngày, chính quyền Sài Gòn đã từ bỏ Cao nguyên và Bắc Việt chuyển sự chú ý của họ về phía Bắc của nước này [Việt Nam Cộng hòa]. Lực lượng quân đội Sài Gòn đã bị lấn án về mặt quân số nghiêm trọng và Tổng thống Thiệu ra lệnh một cuộc rút quân khỏi cố đô Huế và thành phố cảng chiến lược Đà Nẵng.
Động thái trên là một nước cờ chiến lược thông minh. Những gì mà ông Thiệu cùng các cố vấn nghĩ đến khi đó là một chiến thuật kiểu Dunkirk. Theo đó, sức mạnh chiến đấu của quân đội Nam Việt sẽ được tập trung lại cho một trận đánh khác trong một hoàn cảnh thuận lợi hơn. Thế nhưng, thay vì một cuộc “rút lui có trật tự”, mọi thứ khi đó bỗng trở thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn quy mô lớn, đến mức Hà Nội cũng bị bất ngờ không kém gì Sài Gòn và Washington.
Những đội quân tinh nhuệ nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa như Hải quân, Biệt động quân và binh chủng Biệt cách Dù trứ danh đã hoàn toàn tan rã thành một đám đông vô tổ chức và tháo chạy về phía Nam với hầu như không một tiếng súng đáp trả. Đó là một sự thất bại trong việc lãnh đạo, và nó báo hiệu cho sự sụp đổ của miền Nam.
Cho tới thời điểm giữa tháng Tư, Sài Gòn chỉ còn kiểm soát một phần ba phía Nam của Việt Nam Cộng hòa. Dấu hiệu của sự sụp đổ đã trở nên rõ như ban ngày.
Dù đã được an toàn trên đất Mỹ cùng chồng và gia đình, nhưng nỗi lo cho đồng bào trong lòng Teresa không ngừng tăng lên từng ngày mỗi khi những tin tức đượm màu u ám về tình hình chiến sự ở quê hương đến với cô.
Từ một người họ hàng ở Sài Gòn, cô biết được rằng mẹ cô, chị gái và bà ngoại đã thành công rời khỏi đồn điền và chạy về thủ đô Sài Gòn. Còn chưa kịp thở phào nhẹ nhõm, cô nhận được thông tin rằng một người chị gái khác của mình vẫn còn trong vùng chiếm đóng của địch và đã bị bắt khi đang nỗ lực tìm kiếm gia đình. Và anh trai của cô cũng đã bị bắt giữ.
Khi những chuyện này xảy ra, Teresa đang yên vị tại Dallas cùng bố mẹ chồng cô trong khi chồng cô ghi danh theo học tại trường đào tạo Amtrak ở Chicago.
Lo lắng và bứt rứt bởi không thể giúp đỡ gia đình mình, cô quyết định tham gia một buổi gặp gỡ của Hiệp hội Mỹ-Việt tại Dallas. Tổ chức này bao gồm thành phần chủ yếu là những cô vợ Việt lấy chồng Mỹ. Một điểm chung giữa bọn họ là ai ai cũng có thân bằng quyến thuộc ở miền Nam Việt Nam.
Hiệp hội đã quyết định kiến nghị Chính phủ Mỹ cung cấp viện trợ và nơi tị nạn cho những người Việt Nam nào mong muốn được di tản đến Mỹ. Cuộc tranh cãi về số lượng và loại viện trợ nào sẽ được chuyển đến Sài Gòn khi ấy đang được tranh luận kịch liệt tại Quốc hội.
Mối quan tâm chính của Teresa và những người trong nhóm của cô khi ấy là sự an toàn của gia đình. Teresa sau đó đã được chọn để đến Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa tại Washington để đặt vấn đề về việc đưa những người thân của họ ra khỏi Việt Nam.
Cô rời Dallas vào ngày 13-4 và đi thẳng đến Đại sứ quán của chính quyền Sài Gòn ngay sau đó. Vào thời điểm đó, tại đại sứ quán mọi việc đã rối tung cả lên. Các nhân viên nói với cô nửa đùa nửa thật rằng cách duy nhất để đưa người thân ra khỏi Việt Nam là “đến thẳng đó và làm việc với tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn”.
Teresa, khi đó vốn là một phụ nữ độc lập và đầy quyết đoán, chỉ trong vài phút đã đưa ra quyết định cho mình.
Nếu cách duy nhất để cứu gia đình là phải vào hang hùm, thì ngay cả con hùm to nhất cô cũng không sợ.
Ngày hôm sau, cô liên lạc với Hội Việt-Mỹ tại Dallas và nói với họ rằng cô sẽ phải đi Sài Gòn một chuyến nếu muốn “nhiệm vụ” được hoàn thành. Hội này đồng ý hỗ trợ chi phí đi lại và ăn ở cho cô.
Quyết định của Teresa khi đó là một lựa chọn khôn ngoan bởi việc cô nhập cảnh Việt Nam sẽ tương đối dễ dàng bởi cô có quốc tịch Pháp và một tấm hộ chiếu Pháp. Thêm vào đó, khi cô là một công dân Pháp thì việc rời khỏi Việt Nam sau đó cũng sẽ tương đối êm đềm.
Chỉ trong hai giờ sau đó, một chiếc vé máy bay, tiền đi lại và một tấm visa được gửi đến để cô thực hiện chuyến thân chinh đến miền Nam Việt Nam. Mọi việc diễn ra rất nhanh và Teresa cũng rất quyết tâm thực hiện chuyến đi của mình đến mức cô chỉ tiết lộ về kế hoạch của bản thân với một thành viên trong gia đình.
Bố chồng cô khi đó đang bận rộn với công việc ở Washington. Teresa thông báo ông về việc cô sẽ đi Nam Việt chỉ một lúc trước khi chiếc máy bay chở cô cất cánh. Biết rằng mọi nỗ lực khuyên ngăn đều sẽ trở nên vô ích, ông gửi cho cô thêm ít tiền, khẩn nài cô đừng làm chuyện gì quá dại dột và dặn cô trở về Mỹ trước ngày 1-5 dù cô có thành công hay không.
Quan chức Việt Nam chịu trách nhiệm xử lý visa cho cô đã không thể tin được rằng Teresa thật sự muốn đến miền Nam Việt Nam vào một thời điểm như lúc ấy. Đặc biệt khi ngành du lịch tại miền Nam khi ấy đang ở trong tình trạng khủng hoảng tồi tệ.
“Họ nghĩ rằng tôi bị hâm”, Teresa nói.
“Họ hỏi tôi rằng tại sao một người bình thường, còn là một người phụ nữ, lại muốn đánh cược mạng sống của mình bằng cách đến Sài Gòn trong khi họ không có nghĩa vụ gì phải đến đó. Nhưng khi họ thấy sự cương quyết của tôi, họ đã giúp đỡ tôi rất ân cần và chu đáo”, Teresa chia sẻ.
Với hành lý vỏn vẹn chỉ những thứ mà cô mang cùng cho chuyến đi ngắn ngày đến Washington, Teresa giấu tiền bằng cách khâu chúng vào mặt trong quần áo của mình.
Đó là cách tốt nhất, trong suy nghĩ của Teresa, để chuẩn bị cho bất kỳ kịch bản nào có thể xảy đến.
Cô bước lên một chiếc 747 jumbo và bay về phía Đông. Trong tay cô nắm chặt một danh sách chứa tên của thành viên thuộc 34 gia đình khác ngoài gia đình riêng của cô. Đó là những gia đình mà cô mang sứ mệnh giải cứu khỏi Việt Nam. Chuyến bay có rất nhiều ghế trống, bởi trên chuyến bay ấy chỉ có vỏn vẹn 25 hành khách.
Ngày hôm đó là ngày 14-4. Một chuyến đi vào một vùng đất bất ổn mà hầu hết mọi người sẽ tránh né. Một chuyến đi mà hầu hết sẽ nghĩ là ngớ ngẩn, nhưng là một chuyến đi mà Teresa biết rằng nó phải được diễn ra, nay đã bắt đầu.
Ghi chú:
1. 17 Aug 1975, page 21 – Waco Tribune-Herald at Newspapers.com – Newspapers.com. (2025). Newspapers.com. https://www.newspapers.com/image/43932137


Bình luận