Trở lại cứu gia đình trong những ngày Sài Gòn hấp hối: ‘Con đến để đưa mọi người đi’ [Kỳ 2]

Bài được đăng trên trang hai tờ Waco Tribune-Herald số 18-8-1975.

Bài được đăng trên trang hai tờ Waco Tribune-Herald số 18-8-1975. [1]


Lời tòa soạn: Đây là phần thứ hai và cũng là phần kết của loạt bài viết về một phụ nữ trẻ mang hai dòng máu Việt – Ý. Cô đã quay trở lại Việt Nam trong những ngày cận kề sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn, với sứ mệnh cứu gia đình mình. [Mời xem Kỳ 1 tại đây.]

Khi Teresa Luna đặt chân xuống sân bay Sài Gòn để bắt đầu hành trình tìm người thân, cô cảm nhận được hai bầu không khí song song tồn tại.

Bề ngoài, mọi thứ vẫn diễn ra bình thường. Các cửa hàng vẫn mở cửa, hoạt động buôn bán diễn ra sôi nổi, và người dân dường như không tỏ ra lo lắng hơn thường lệ.

Tuy nhiên, ẩn sau vẻ yên ổn đó, Teresa nhận thấy một cảm giác bất an, dù không lớn, nhưng đang lan rộng về một điều tồi tệ nhất sắp xảy ra. Và ngay lập tức, nó đã biểu hiện.

Trước đây, thủ tục hải quan tại Sài Gòn vốn nổi tiếng rườm rà và quan liêu. Nhưng trong bối cảnh chiến sự đang diễn biến bất lợi, mọi thứ đã thay đổi.

“Các nhân viên hải quan rất tử tế,” Teresa kể lại. “Họ không kiểm tra hành lý của tôi, cư xử lịch sự và có phần trầm lắng. Họ thậm chí còn chủ động đề nghị đổi tiền cho tôi ngay tại sân bay theo tỷ giá chợ đen.”

Teresa bắt đầu tìm kiếm mẹ mình, cô tìm đến nơi mà cô nghĩ bà sẽ ở đó – căn nhà của một người dì của cô ở Sài Gòn. Tuy nhiên, cô bất ngờ khi thấy ngôi nhà đã có chủ mới. Dì cô đã bán căn nhà ấy.

May mắn thay, chủ mới của ngôi nhà biết gia đình dì cô đã đi đâu. Hóa ra, toàn bộ người thân của Teresa ở Sài Gòn cùng những người họ hàng chạy nạn từ các tỉnh lân cận đều đã tụ họp dưới một mái nhà – tại nơi ở của một người dì khác.

Nói một cách nhẹ nhàng, mẹ của Teresa, em gái 10 tuổi của cô và khoảng 50 người thân khác – bao gồm cô, dì, chú, bác và anh chị em họ – đều vô cùng kinh ngạc khi nhìn thấy cô xuất hiện.

“Mẹ tôi tưởng mình đang nhìn thấy một bóng ma,” Teresa kể lại. “Không ai trong gia đình nghĩ rằng sẽ còn được gặp tôi, và rồi đột nhiên tôi đứng ngay trước mặt họ. Đó là một khoảnh khắc đầy xúc động.”

“Sao con lại ở đây?” – mẹ cô hỏi.

“Con đến để đưa mọi người đi,” Teresa đáp.

Sau, cô mới nhận ra điều này nói dễ hơn làm.

Đêm hôm đó, Teresa được nghe kể lại toàn bộ những gì đã xảy ra với gia đình mình. Cô được biết rằng, trước khi đồn điền cà phê của gia đình bị chiếm, họ đã kịp đổi phần lớn tài sản thành vàng.

Trong lúc vội vã chạy trốn, số vàng đó buộc phải bỏ lại, và đến nay vẫn còn hàng nghìn đô la giá trị vàng được chôn giấu đâu đó trong khu đồn điền rộng lớn.

“Những người cộng sản sẽ không tìm thấy đâu,” Teresa nói.

Ngày hôm sau, sau giấc ngủ trên sàn của một ngôi nhà có tới 50 người chen chúc, Teresa bắt đầu liên lạc với những gia đình có tên trong danh sách mà cô mang theo từ Dallas và Washington.

Cô đã đi đến 36 ngôi nhà, cố gắng đánh động mọi người về tính cấp bách của tình hình, đồng thời hướng dẫn họ các thủ tục cần thiết để rời khỏi đất nước. Hầu hết những người này đều có thân nhân ở Hoa Kỳ, vì vậy cơ hội thoát ra khỏi Việt Nam của họ khá cao.

Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, Teresa đều gặp phải sự từ chối. Phần lớn những người cô tìm gặp dường như không tin rằng tình hình đã nghiêm trọng đến vậy.

“Chúng tôi không lo,” nhiều người nói. “Người Mỹ sẽ quay lại. Họ đã chiến đấu với Hà Nội nhiều năm, họ sẽ không để Sài Gòn thất thủ đâu.”

Teresa hiểu rằng đó là một niềm hy vọng ngây thơ, dù có thể cảm thông được.

Một số người khác, dù ý thức rõ hơn về hiểm nguy, vẫn do dự rời bỏ mảnh đất nơi họ đã sinh ra.

Trở lại với vấn đề cấp bách hơn hiện tại là gia đình của chính mình, Teresa bắt đầu thuyết phục mẹ cô về việc rời Việt Nam. Tình thế trở nên khó khăn hơn bởi em gái và em trai của cô đang bị giam giữ hoặc có thể đã chết, và người mẹ kiên quyết không chịu đi cho đến khi biết rõ số phận của họ.

Bà ngoại của Teresa, tuổi đã ngoài chín mươi, cũng dứt khoát từ chối rời đi. Bà nói mình không thể chịu nổi một chuyến đi xa, bởi cả đời bà đã sống ở Việt Nam và muốn được yên nghỉ tại quê hương.

Nhưng chưa hết, vẫn còn những trở ngại khác.

Teresa trước hết tìm đến Đại sứ quán Hoa Kỳ để làm thủ tục cho mẹ và em gái. Cô chỉ được phép vào trong nhờ mang quốc tịch Pháp. Bên trong, cô phải chờ đợi hai giờ đồng hồ mới có thể trình bày hoàn cảnh của mình.

“Mọi việc lúc ấy vô cùng rối ren,” cô kể lại.

Các nhân viên đại sứ quán thông báo rằng Washington vẫn chưa có quyết định cuối cùng về việc bảo trợ người tị nạn, cũng như chưa rõ liệu có tổ chức di tản hay không. Họ khuyên cô nên đến các cơ quan của chính quyền Việt Nam xin hộ chiếu cho gia đình, phòng trường hợp cần thiết.

Đáng tiếc thay, chính quyền Sài Gòn từ chối cấp hộ chiếu. Họ cũng đang “chờ làm rõ” chính sách của Hoa Kỳ. Trong khi đó, toàn bộ quân đội Bắc Việt đã hoàn tất bao vây Sài Gòn, còn tại Washington, các cuộc tranh luận vẫn kéo dài trong Quốc hội Mỹ.

“Tôi không thể ăn, cũng chẳng thể ngủ,” Teresa nói. “Tôi đã cầu nguyện suốt đêm hôm đó.”

“Đến lúc này, bà ngoại và tôi đã thuyết phục mẹ tôi đồng ý ra đi, nhưng lúc này dường như mọi nỗ lực đều vô ích,” cô nói thêm.

Trong cơn tuyệt vọng, Teresa đề nghị mẹ kết hôn với một người nước ngoài, tốt nhất là một người Pháp, để có thể có quốc tịch mới và một con đường thoát khỏi Việt Nam.

Một người họ hàng của Teresa quen biết một người đàn ông Pháp độc thân và giới thiệu Teresa đến gặp ông ta. Cô đề nghị ông kết hôn với mẹ mình và hứa sẽ bán chiếc nhẫn trị giá 6.000 đô la để đưa tiền cho ông như một khoản khích lệ thêm. 

“Ông ta cười nhạo tôi,” Teresa kể lại.  

Sau đó, cô nghe nói có một người Pháp khác sẵn lòng, thế nhưng, lại có vấn đề. 

“Ông ấy được cho là sẽ qua đời trong vòng 24 giờ,” Teresa nói. 

Lúc này là ngày 21-4. Quốc hội Hoa Kỳ đã phê chuẩn viện trợ nhân đạo cho người tị nạn nhưng từ chối viện trợ quân sự bổ sung.

Tại thời điểm đó, Teresa và gia đình nhận được một tin vui nhỏ. Những người tị nạn chạy từ miền Bắc cho biết anh trai và chị gái của cô vẫn còn sống, nhưng bị giam giữ.

Cũng chính những nguồn tin này đã mô tả một bức tranh ảm đạm về những gì họ chứng kiến từ các chiến thuật của phe cộng sản trên chiến trường.

Thị trưởng thị xã Ban Mê Thuột – một đô thị lớn gần đồn điền nhà cô – cùng các quan chức khác đã bị hành quyết ngay lập tức. Người nước ngoài bị bắt giữ, và do anh trai và chị gái của Teresa mang quốc tịch Ý, họ cũng bị xem là người nước ngoài.

Dân thường không bị hành hạ, theo lời các nhân chứng, nhưng nhiều người đang chết đói vì phía Bắc Việt đã tịch thu phần lớn lương thực.

Họ cũng không cho phép chôn cất những người thiệt mạng trong các cuộc tấn công, và có tin đồn về việc chó ăn xác người chết.

Khi đó, Teresa gần như không còn hy vọng có thể đưa mẹ mình rời khỏi nơi nguy hiểm. Cô quyết định chờ thêm hai ngày nữa, nhưng vẫn đến xác nhận vé trở về. Pan Am – hãng hàng không thương mại duy nhất còn hoạt động ở Sài Gòn – đã đóng cửa văn phòng. Có vẻ như không còn ai có thể rời đi được nữa.

“Tôi quyết định thử đến đại sứ quán thêm lần nữa,” Teresa nói.

Cô và người chú, một sĩ quan cấp tá trong cơ quan tình báo quân đội Việt Nam Cộng hòa, vốn dự định sẽ ăn trưa với bạn bè trước khi đến Đại sứ quán. Nhưng vào phút chót, họ đổi ý, quyết định đến Đại sứ quán trước.

Quyết định tưởng chừng nhỏ bé ấy lại trở thành một bước ngoặt định mệnh – một trong những khoảnh khắc khiến người ta tin rằng có sự can thiệp của số phận.

Khi đang chờ được vào trong Đại sứ quán, Teresa nhìn thấy một gương mặt quen thuộc – một người bạn Mỹ mà cô từng làm việc cùng nhiều năm trước. 

“Nếu tôi đi ăn trưa trước khi đến Đại sứ quán, có lẽ tôi đã không gặp được ông ấy,” Teresa nói.

Cô kể cho ông nghe về tình cảnh của mẹ mình. Ông cho biết về chính sách mới, theo đó những người tị nạn tiềm năng không còn cần hộ chiếu nữa.

“Cô hãy đến DAO (Văn phòng Tùy viên Quốc phòng) tại Tân Sơn Nhất,” ông nói với cô. “Đó là nơi đang tiếp nhận và xử lý hồ sơ cho những người tị nạn sang Hoa Kỳ.”

Điều kỳ lạ là, thông tin này không hề được phổ biến rộng rãi giữa hàng ngàn người Việt Nam lúc bấy giờ đang tìm cách rời khỏi đất nước. Hầu hết đều nghĩ rằng chỉ có Đại sứ quán mới phụ trách việc di tản.

Teresa vội vã đến sân bay.

“Được rồi,” viên chức nói, “chúng tôi có thể cho mẹ cô đi, bà ấy không cần hộ chiếu. Nhưng chị gái cô thì không thể đi được.”

Teresa khẩn khoản:

“Các ông phải cho đi,” cô nói. “Mẹ tôi sẽ không rời đi nếu không có chị ấy, và tôi cũng sẽ không đi nếu thiếu họ. Tôi đã vượt hơn mười nghìn dặm để làm việc này. Xin hãy để họ đi.”

“Được rồi, cô thắng,” viên chức trả lời. “Họ có thể đi.”

Đó là tin vui nhất mà Teresa nghe được kể từ khi cô về đây. Ngày hôm đó là 22-4.

Ngày hôm sau, Teresa, mẹ và chị gái cô được người người chú cùng sáu đứa trẻ đưa ra sân bay để kịp lên một trong những chuyến bay dành cho người tị nạn.

Một hàng rào cảnh sát quân sự dày đặc bao quanh sân bay, không phải để ngăn chặn Cộng quân tấn công, mà để ngăn những người Việt Nam không có giấy phép tìm cách chen vào.

Bầu không khí ở Sài Gòn khi ấy trở nên căng thẳng và hỗn loạn, và nỗi hoảng loạn đã đến rất gần.

Ghi chú:

1.  Aug 18, 1975, page 2 – Waco Tribune-Herald at Newspapers.com – Newspapers.com. (2025). Newspapers.com. https://www.newspapers.com/image/961707086 

Một đất nước chỉ trưởng thành khi lịch sử được ghi nhớ một cách trung thực và trọn vẹn.

Đó là lý do Luật Khoa thực hiện Dự án 1975, nhằm tái hiện lại năm 1975 qua những bản tin hàng tuần – theo báo chí miền Bắc, miền Nam và quốc tế, lời kể của nhân chứng từ cả hai phía của cuộc chiến.

Ủng hộ Quỹ Nghiên cứu Việt Nam Cộng hòa để Dự án 1975 tiếp tục lan tỏa.

Mỗi khoản đóng góp dù lớn hay nhỏ đều giúp ích cho các tác giả viết tiếp và làm sáng tỏ thêm phần lịch sử còn nhiều tranh cãi này của đất nước chúng ta.

Bình luận

Discover more from Luật Khoa 1975

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading