Quan-trọng cho sự sống của Việt-Nam: Tạo văn hóa sống trên văn hóa chết

Lời của Dự án 1975: Trong quá trình lưu trữ, nhóm Dự án quyết định giữ nguyên nội dung như khi đăng trên báo Chính Luận, bao gồm những lối dùng từ của miền Nam xưa mà ngày nay không còn thông dụng, và cả những sai sót chính tả hoặc lỗi đánh máy trong bản gốc.

Bài “Quan trọng cho sự sống của Việt Nam: Tạo văn hóa sống trên văn hóa chết” của tác giả Trần Triệu Việt phê phán tình trạng thiếu nền tảng văn hóa dân tộc ở miền Nam Việt Nam trước 1975.

Tác giả cho rằng chính quyền và giới trí thức miền Nam không có đường lối văn hóa rõ ràng, để mặc cho ảnh hưởng Cộng sản và tư tưởng Tây phương lan rộng trong thanh niên. Trong khi đó, miền Bắc lại có chiến lược văn hóa thống nhất, dùng để củng cố chính trị và tinh thần dân tộc.

Ông cảnh báo rằng nếu miền Nam không xây dựng một “văn hóa sống” thì sẽ bị thua ngay trong cuộc đấu tranh tư tưởng.

Bài viết được đăng trên tờ trang hai Chính Luận số 25-2-1975. [1]


Người ta thường kể về sự quan trọng của văn hóa. Nào văn hóa là nền tảng của dân tộc, của cuộc sống, của chánh trị. Nào không văn hóa thì chết. Nào làm văn hóa sai lầm thì giết muôn đời. Thế nhưng tình trạng văn hóa miền Nam thật là thiểu não.

Một sự trống rỗng

Cả một sự trống rỗng về văn hóa, người ta nhận thấy như vậy. Cứ thử hỏi xem miền Nam đã tạo những công trình văn hóa nào, là ta phải bỡ ngỡ khi trả lời. Đành rằng các tư nhân cũng có những công trình văn hóa, nhưng thật là lẻ tẻ, và không được nâng đỡ. Còn chánh quyền thì chẳng có thực hiện nào đáng kể; những vụ dịch sách cổ, để làm gì? Còn những vụ tiếp tay xuất bản cho các tác giả, được bao nhiêu? Và những công trình nghiên cứu, có gì? Nhân danh tự do, người ta có thể nại cớ để cho tất cả các khuynh hướng phát triển (hay không phát triển).

Nhưng có cái điều nguy hiểm là nhân danh các tự do đó, người ta đã không làm gì cả, trong khi đối phương (Cộng Sản) cứ tiến triển đều đều và đã có những cuộc xâm lấn khá ngoạn mục. Để thúc dục các nhà văn hóa làm một cái gì, thì cứ cần phải nêu lên.

Những chuyện thiểu não

Người ta kể chuyện rằng, trong một cuộc khảo sát để chấm giải Văn học Nghệ thuật của quốc gia; ban Giám khảo đã quyết định tuyển chọn một tác phẩm. Không ngờ có một người phát giác kịp thời, rằng tác phẩm đó là một tác phẩm của miền Bắc (hoặc có những đoạn, những ý, mượn của một tác phẩm miền Bắc). Hú vía! Tác phẩm bị loại đúng lúc. Và do đấy, mới có một quỹ xuất ra, để mua ở ngoại quốc những sách xuất bản ở Hà nội, để các nhà hữu trách đọc và kịp thời phát giác xem có những tác giả nào đã mượn của các tác phẩm miền Bắc.

Người ta cũng không quên câu chuyện một ông A (tác giả gạo cội) viết một cuốn sách nổi tiếng.

Nhân đó, ông A đứng lên đả kích ông B đạo văn của người miền Bắc, khi viết về văn học. Ông B phản công, chứng minh rằng ông A cũng đạo văn của người miền Bắc. Té ra hai ông cùng đạo văn hoặc mượn ý của miền Bắc.

Miền Bắc có những gì thật hay và thật xác đáng đâu, để mà đạo văn, mượn ý? Sự thật, nếu người văn hóa miền Nam cố công tìm tòi, thì với đà phát triển cổ học và khoa học huyền bí như ngày nay, có thể có nhiều phát giác tuyệt hảo hơn nữa. Chỉ cần cố gắng và được khuyến khích.

Người ta cũng kể chuyện một ông tổng trưởng vừa nhắc đến cái “văn minh tre” của người VN. Một người biết chuyện đã phê bình “nhắc làm gì! Đó chỉ là một khám phá sau này của miền Bắc”. Đúng thế thì nhắc đến là “ẹ” thật, nếu không phải là chính các nhà nghiên cứu của hội Viễn đông Bác Cổ Pháp đã khám phá ra “văn minh tre” ấy từ lâu.

Chưa hết. Ta cứ thử giở những cuốn sách học sử địa của Trung Học ra mà xem. Vô khối sách đề cao Cộng Sản, trái với tinh thần của chương trình. Có lẽ những người viết đã chỉ theo những tài liệu của người Pháp, và đã không sống thật với CS hoặc không có tư tưởng quốc gia vững chắc.

Người ta cũng kể chuyện nhiều giáo sư phải “lác con mắt” khi nghe các sinh viên hỏi những câu hóc búa, nhưng dùng ngôn từ Cộng Sản và thuyết Cộng sản.

Những sinh viên đó đã chịu ảnh hưởng của những sách Cộng sản nào đó… mà họ tiếp nhận được. Các thầy ghi nhận tình trạng, nhưng chưa biết làm sao.

Một vài sự kiện ở miền Nam 

Miền Nam có cơ quan đặc trách văn hóa một cách chánh thức. Nhưng chánh quyền lại không có một đường lối. Cho nên cơ quan chánh thức đã không có tập trung cố gắng vào một công trình nào.

Kể ra thì cũng có công trình làm Tự điển để tiến sang tự điển Bách khoa, làm nền tảng cho các công trình văn hóa khác – nhưng công trình Tự điển bị chận đứng– nếu không phải là bị dìm chết –vì không có ngân sách. Công trình văn hóa, rốt cuộc lại, chỉ thu trong việc dịch một ít sách cổ, không biết để làm gì.

Cơ quan chánh thức cũng có lo việc hỗ trợ cho các soạn giả. Nhưng không phải sách nào hay cũng được người đời biết đến. Những sách quý, như bộ Sử lớn của ông Lam Giang, một người nặng tinh thần quốc gia, lại không được hỗ trợ hoặc chỉ được hứa hẹn suông tình để chờ ít năm.

Bảo rằng đại học Văn Khoa lo việc xây dựng văn hóa là không đúng.

Không nói đến ngành văn hóa Đông phương ở ĐH Văn khoa được ban phát riêng biệt và kể như có linh hồn, các ngành khác là cả một trạng huống tạp pí lù. Không phải nhân danh tự do mà người ta ban phát đủ thứ triết thuyết, rồi để mặc đó, không suy luận, không kết luận về một chủ trương văn hóa dân tộc.

Người ta cũng không định nghĩa được văn hóa dân tộc thế nào để từ đó nêu lên một chủ trương văn hóa, cho các ngành khác, như sử, địa, văn học, nghệ thuật.

Có khi người ta còn chửi cả anh hùng xưa, như vụ Nguyễn Trãi bị giáo sư chửi trên giấy trắng mực đen, chưa kể rằng người ta chỉ biết các diễn biến lịch sử mà không biết được tinh thần và căn bản văn hóa ngày xưa.

Ngành Văn hóa Đông phương ĐH Văn khoa và đại học Vạn Hạnh đã làm được một cái gì trong việc xây dựng văn hóa. Củng có nhiều cơ sở văn hóa khác làm việc văn hóa, của Cao đài, Hòa Hảo, Phật giáo, Thiên chúa giáo, nhưng đã không có một cuộc tổng hợp nào, nếu không phải là mỗi cơ quan dương danh một con đường văn hóa riêng biệt của mình.

Cái đáng ngại

Trong khi không có một sự xác định nào về văn hóa dân tộc để mọi người noi theo, trong khi các cơ quan văn hóa làm việc riêng rẽ, trong chánh quyền không có một công trình văn hóa nào, thì phe CS [cộng sản] lại có những cố gắng ở đất đai của họ (một chủ nghĩa, một đường lối văn hóa, một hội văn hóa do nhà nước hỗ trợ, những công trình văn hóa, những cuộc phổ biến sâu rộng trong nước và ở ngoại quốc). Và ngoài ra, họ lại có những cuộc xâm lấn, vô tình hay hữu ý. Những bằng chứng không phải là ít.

Người ta biết rằng Cộng Sản có bán những sách của họ ở Nam Vang (trước đây), rồi ở Hương Cảng [Hongkong], ở Ba Lê [Paris], và những du khách mua sách về, hoặc có cả những cơ quan nhà nước mua về nữa. Thế rồi những sách đó được đọc ở miền Nam này. Có thể còn những vụ phổ biến lén lút nữa. Và, như đã nói, có những giáo sư đại học phải lé con mắt khi có những sinh viên dùng ngôn từ Cộng Sản để lấy những lập luận Cộng Sản mà hỏi giáo sư đủ thứ vấn đề.

Văn hóa có phải là một vấn đề quan trọng không?

Chúng ta bắt buộc phải nghĩ rằng, nếu không có gì được làm cho văn hóa miền Nam, thì một ngày kia, thanh niên miền Nam sẽ có những cái nhìn lệch lạc, sẽ hiểu Jean Paul Sartre và thuyết hiện sinh, hoặc những thuyết Cộng sản, nhiều hơn là những tư tưởng quốc gia dân tộc. Mà ngay từ nay đã có một tệ trạng mào đầu, từ ngày có đại học Văn Khoa mà không có đường hướng Văn Hóa, không có một Tuyên Ngôn Văn Hóa cho miền Nam để tất cả noi theo.

Một tình trạng buông thả đã kéo dài lâu năm. Cũng có những người làm văn khao đấy, nhưng không chủ đích, không đường hướng, không lý tưởng.

Chúng ta hiểu rằng, ở miền Bắc, có đường hướng văn hóa rõ rệt, theo quan điểm duy vật, từ đó mà các bộ Sử, Địa, Văn Học Nghệ thuật căn bản được viết lại, để tạo thành một căn bản văn minh, một căn bản sống, một căn bản chính trị. Cả một chế độ được xây dựng trên đó. Những lập luận theo Duy Vật để làm hướng cho Sử, Địa, Văn Học Nghệ Thuật có những sai lầm, nhưng lại thường hấp dẫn thanh niên, nếu họ không được dẫn dắt để có những so sánh, những thảo luận ngược lại.

Chúng ta phải sợ rằng những lập luận theo chủ nghĩa Cộng Sản mà thanh niên miền Nam này đều tiếp nhận qua các chương trình học, và không có những tư tưởng và căn bản quốc gia để đối chiếu lại, sẽ ảnh hưởng vào thanh niên hoặc ít ra là tạo thành một cái “mốt” để hấp dẫn người ta–nhất là đáng lẽ có những công cuộc văn hóa mà các nhà trí thức, chánh trị phải làm thì người ta lại chỉ thấy những khẩu hiệu hay thứ văn chương tuyên truyền rẻ tiền, chửi bới tầm thường, không hấp dẫn được đám thanh niên có học và không tạo được nền tảng văn hóa nào.

Rồi đây, Hiệp định Ba Lê sẽ được thi hành. Có thể nghĩ rằng khi đó, sẽ không có liên hiệp thì cũng sẽ có một hình thức giao thiệp nào đó để người các miền tiếp xúc với nhau; khi đó thì người quốc gia miền Nam sẽ đem những gì ra để áp đảo những sáng tạo và đường hướng văn hóa của người Cộng Sản.

Một kỳ sau, chúng tôi sẽ xin nêu lên ý kiến của một số những nhà tri thức Việt Nam để xếp đặt nền tảng cho cuộc tranh đấu văn hóa quốc gia của miền Nam – để xếp đặt một cuộc ganh đua văn hóa sẽ phải có.

Ghi chú:

1.  Nhat Bao Chinh Luan. (2022). Ndclnh-Mytho-Usa.org. http://ndclnh-mytho-usa.org/Bao%20Chinh%20Luan.htm 

Một đất nước chỉ trưởng thành khi lịch sử được ghi nhớ một cách trung thực và trọn vẹn.

Đó là lý do Luật Khoa thực hiện Dự án 1975, nhằm tái hiện lại năm 1975 qua những bản tin hàng tuần – theo báo chí miền Bắc, miền Nam và quốc tế, lời kể của nhân chứng từ cả hai phía của cuộc chiến.

Ủng hộ Quỹ Nghiên cứu Việt Nam Cộng hòa để Dự án 1975 tiếp tục lan tỏa.

Mỗi khoản đóng góp dù lớn hay nhỏ đều giúp ích cho các tác giả viết tiếp và làm sáng tỏ thêm phần lịch sử còn nhiều tranh cãi này của đất nước chúng ta.

Bình luận

Discover more from Luật Khoa 1975

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading