Lời của Dự án 1975: Trong quá trình lưu trữ, nhóm Dự án quyết định giữ nguyên nội dung như khi đăng trên báo Chính Luận, bao gồm những lối dùng từ của miền Nam xưa mà ngày nay không còn thông dụng, và cả những sai sót chính tả hoặc lỗi đánh máy trong bản gốc.
Bài viết này là phần cuối một ghi chép của tác giả Nguyễn Ngọc Tâm, một nhân chứng cho những ngày cuối cùng của Đà Nẵng trước khi thất thủ vào tay lực lượng Cộng sản tháng 3-1975. Bài được đăng trên báo Chính Luận ngày 11-4-1975. [1] Mời độc giả đọc kỳ 1 tại đây.
Ngày 27-3
Tôi gấp vội một ít quần áo mới may hồi tết, thu lượm những giấy tờ cần thiết của nhà trường bỏ vào va ly. Tôi nhìn căn phòng thân yêu nơi đã đem lại cho tôi những giấc ngủ êm đềm một cách xót xa, nuối tiếc mà chỉ giờ phút này tôi mới nhận diện được nó đáng yêu mặc dù nó chật hẹp. Ăn sáng qua loa tôi lại ra văn phòng tiếp tục làm việc.
Học trò tôi tới thật sớm và cũng thật đông, tôi và một vài giáo sư thân thiết làm không xuể. Ngoài lộ dẫn vào Tiên Sa từng tràng súng nhỏ nổ liên hồi, quân đội đương dẹp thác người đổ vào căn cứ Hải quân tìm ra bến tàu mỗi lúc một đông tạo ra cảnh hỗn loạn không thể tưởng. Đúng 10 giờ tôi phải cất bỏ mọi công việc và phóng vào bệnh viện Hải quân vì tin Linh mục giám đốc gặp tai nạn. Nỗi thất vọng cùng cực bây giờ mới thực sự đến với tôi.
Tôi có ý định ở lại với ngài nếu ngài phải ở lại. Thật không may cho tôi, tôi vừa đến thì ngài cũng vừa được chuyển qua bệnh viện Duy Tân.
Chiều đến, khi mọi người đương quay quần quanh mâm cơm thì điện thoại réo liên hồi, tôi được tin Linh Mục giám đốc không đến nỗi nguy đến tính mạng.
Người thông báo cho tôi là cha Hùng, Tuyên úy bệnh viện Duy Tân, cha Hùng với tôi là người đồng hương nên cha rất băn khoăn đến số phận của tôi. Cha bảo tôi phải tìm cách dời [rời] Đà Nẵng càng sớm càng tốt không thì không kịp. Bệnh viện Duy Tân sắp di tản còn Cha sẽ tình nguyện ở lại. Ngài gởi tôi lời chào vĩnh biệt những người thân yêu nếu tôi thoát.
Tôi ngậm ngùi muốn khóc mà khóc không nổi. Giữa lúc đó thì Tạo, bạn tôi sang. Tôi mời hắn dùng qua loa chút cơm. Hắn bi quan đến cùng cực và mô tả cho chúng tôi cảnh tuyệt vọng và hỗn loạn bên thị xã.
Thị xã chừ đã mất hẳn trật tự, bóng dáng những quân cảnh, cảnh sát đã mất hút, lính tráng mặc sức tung hoành cướp phá, đặc công ám sát gây cảnh tượng kinh hoàng, mọi người đều chạy thục mạng tìm đường thoát, phi trường tràn ngập đồng bào khiến máy bay không thể đáp mà cũng không thể cất.
Tối đó, Tạo ở lại với tôi.
Ngày 28-03
Vào khoảng một giờ đêm chúng tôi được thông báo Linh Mục giám đốc sẽ được di tản vào Sài Gòn lúc 2 giờ sáng. Cả nhà đều kéo sang bệnh viện Duy Tân để tiễn đưa. Vừa tới cổng bệnh viện chúng tôi thấy một hàng dài các xe cứu thương chất đầy thương bệnh binh đương chờ lệnh chuyển bánh ra phi trường, người ta không dám di tản ban ngày vì không thể chuyển phi cơ trước sự tràn ngập chen lấn của đồng bào.
Lúc này ai ai cũng đều ích kỷ cả, ai ai cũng chỉ còn biết tới mình, cứu được mình là tốt phước lắm rồi. Tôi thầm trách (bỏ 2 chữ) [có thể là “chính quyền”] đã bất lực, suốt hai năm qua đã không biết lợi dụng lòng chán ghét Cộng Sản của dân chúng để tạo thành một sức mạnh chiến thắng Cộng Sản. Tôi không thể hiểu được khi họ ra lệnh di tản, bỏ rơi tất cả, Cộng Sản đã chiến thắng mà không phải tốn một viên đạn, một giọt máu. Sự thực thật là phi lý. Lịch sử sẽ phê phán thế nào về hành động này.
Tôi đánh thức Tạo lúc 2 giờ 30 sáng để về nhà lấy hành trang và đoàn người chúng tôi lên đường lúc 3 giờ. Nhờ quen biết chúng tôi được vào căn cứ Hải quân dễ dàng. Từ cổng đến bến Tàu đường dài khoảng bảy tám cây số, vòng vo dưới chân núi “khỉ”.
Đồng bào trước đó và hiện đang tay bồng tay xách cùng chúng tôi âm thầm đi bộ đến cầu tàu. Tôi có cảm tưởng chúng tôi là những người chiến sĩ đang đem tính mạng đổi lấy Tự do. Tôi và mọi người đồng hành cũng đang mang nặng một hoài nghi không biết mình có cơ may đi được hay không. Tuy nhiên vào được đến đây thì cơ may của chúng tôi cũng đã trổi vượt hơn hàng triệu đồng bào khác đang khắc khoải trong toàn Thị xã.
Chúng tôi tới cầu tàu Thống Nhất nằm nhô ra biển Nam Hải dưới mỏm Tiên Sa vào lúc 4 giờ 30. Nơi đây thật không biết cơ man nào là đồng bào. Họ nằm, ngồi ngổn ngang, nhiều người đến đây từ những ngày trước vẫn chưa sao đi được. Họ đương dõi mắt ra biển khơi chờ con tàu định mệnh. Chúng tôi lắc đầu ngao ngán, niềm hy vọng mỗi lúc 1 xuống thang và quyết định rời bến Thống Nhất vào cầu tàu trong bộ Tư Lệnh Hải Quân nhưng bị chặn lại ngay từ cổng.
Chúng tôi không thể tiến đành đứng nhìn những người may mắn đang được bốc xuống tàu. Trời sáng dần và con tàu cũng bắt đầu nhổ neo nhưng số đông vẫn còn kẹt lại trên bến. Chúng tôi được phép vào cầu tàu. Niềm hy vọng lại bừng sáng vì chúng tôi tin tưởng nơi đây là chỗ ân huệ dành cho những người thuộc gia đình Hải quân lẽ nào lại bị bỏ rơi.
Cũng nơi đây tôi gặp Loan và gia đình nàng, thật tội cho Loan? Từ một cô học trò lớp 12 Loan bỗng chốc đã trưởng thành, tháo vát không kém gì bất cứ người con gái nào đã vào đời, tôi thật không ngờ trong giờ phút thập tử nhất sinh này chúng tôi lại được ở cạnh nhau.
Ban ngày trời nắng như thiêu như đốt, trên cầu tàu và trong các căn nhà bỏ trống của BTLHQ [Bộ Tư lệnh Hải quân], đồng bào chờ đợi càng lúc càng thấp thỏm. Thỉnh thoảng một viên sĩ quan lại ra giải thích và xin đồng bào dời chỗ đi bến khác vì tàu không có nhưng chẳng một ai nghe. Họ quyết gan lì, ăn vạ và hy vọng như đêm qua tàu sẽ lại cập bến đón rước họ.
Ngoài khơi những chiếc tàu đánh cá chở thân quyến hoặc được thuê mướn chở đồng bào ra các xà lan đậu ở ngoài xa tắp qua lại như thoi đưa. Chúng tôi muốn mướn một chuyến nhưng giây phút này tìm đâu ra.
Đến gần mười giờ tối, địch pháo kích như mưa vào thị xã và bến tàu để ngăn cản đồng bào ra đi. Chúng có tiền sát [?] điều chỉnh nên pháo rất chính xác đồng bào bỏ chạy tán loạn.
Cảnh mẹ lạc con, con lạc mẹ cùng tiếng khóc, tiếng kêu cứu hòa trong tiếng nổ chát chúa diễn ra tưởng không còn gì thương tâm bằng. Quanh tôi đã có những đồng bào gục ngã. Họ đã tìm được sự tự do vĩnh cửu bên kia thế giới.
Tiếng pháo kích ngưng vào lúc gần nửa đêm. Thế là một ngày chờ đợi trong hãi hùng đã qua đi.
Ngày 29-3
Bọn chúng tôi đã hoàn toàn thất lạc nhau. Tôi tự hỏi trong bơ vơ: Tạo, Hùng giờ này ở đâu? Tôi âm thầm oán trách họ đã bỏ rơi tôi. Trời sáng dần, đồng bào lại lũ lượt từ các nơi ẩn núp chạy ra cầu tàu. Tôi thất thểu tìm gia đình Loan nhưng chẳng đâu thấy. Tôi vất va ly chạy ra cổng Bộ Tư Lệnh bám vào thành một chiếc GMC trở lại bến Thống Nhất. Bến vẫn đông nghẹt đồng bào và quân nhân. Chừ thì hy vọng của tôi còn rất mong manh. Tôi khẩn cầu ơn trên cứu giúp.
Địch lại pháo sang từ phía đèo Hải Vân và Ngũ hành sơn. Đạn pháo nổ dưới biển bắn nước lên tung tóe, tiếng kêu khóc lại nổi lên từng chập. Một số đồng bào vô tội lại gục ngã. Tôi không thể chịu đựng được nữa, tôi nhắm mắt chờ tử thần… Nhưng giữa lúc tuyệt vọng nhất thì bất chợt niềm hy vọng cũng bừng sáng nhất. 1 chiếc xà lan được tàu kéo cho cập bến. Tôi mừng không thể tả, mọi người trút hết sợ hãi reo vang.
Cảnh chen lấn diễn ra, mạnh ai nấy chen, người ta quăng đồ đạc lại, đạp lên nhau. Nhiều đứa trẻ chết lúc bị xô lấn khiến các bà mẹ khóc than thảm thiết nhưng chẳng buồn ai nghe.
Tàu cặp không sát nên có nhiều người người phải nhào xuống biển bơi ra bám vào thành xà lan. Nhiều người nhắm mắt nhắm mũi nhảy đại sang. Có những trẻ em rơi tỏm xuống biển và chẳng một ai cứu.
Tôi và một số đồng bào may mắn, chừng trên năm ngàn người, đã lên được xà lan và tàu kéo. Nét mặt người người đều hỗn loạn. Tôi thầm cám ơn Thượng đế đã giúp đỡ tôi. Tàu kéo xà lan ra đậu ngoài khơi. Đồng bào tôi còn lại, lại bị pháo một lần nữa, những chiếc ghe, xuồng, tàu đánh cá từ phía Ngọc Quang, Thanh Khê, cửa sông Hàn vẫn tiếp tục chở người ra xà lan trong đó tôi thấy bóng dáng linh mục Vũ như Huỳnh, hiệu trưởng Trường Sao Mai. Xà lan đã bị tràn ngập vượt quá sự trọng tải. Thuyền trưởng phải ra lệnh cấm đổ người lên, lính tráng bắn súng từng chập, từng chập ngăn cản.
Tàu nhổ neo lúc hai giờ chiều, tôi hỏi thăm một vài người mới lên họ cho biết Đà Nẵng nay còn đâu? Việt Cộng đã treo cờ ngoài phi trường và lác đác trong thành phố.
Chúng lấy xe tăng của quân ta để lại án ngữ cầu Trịnh minh Thế và đậu ở ngã tư quân đoàn từ hồi sáng.
Tôi nguyện cầu cho Loan, gia đình Loan, những người thân của tôi và toàn thể đồng bào tôi còn lại được thoát nạn.
Thế là hết, hết tất cả. Vĩnh biệt Đà Nẵng thân yêu.
Ghi chú:
1. Nhat Bao Chinh Luan. (2022). Ndclnh-Mytho-Usa.org. http://ndclnh-mytho-usa.org/Bao%20Chinh%20Luan.htm


Bình luận