Luật báo: Ấn định lờ mờ, giải thích lơ mơ, thi hành tùy thích [Kỳ 3]

Lời của Dự án 1975: Trong quá trình lưu trữ, nhóm Dự án quyết định giữ nguyên nội dung như khi đăng trên báo Chính Luận, bao gồm những lối dùng từ của miền Nam xưa mà ngày nay không còn thông dụng, và cả những sai sót chính tả hoặc lỗi đánh máy trong bản gốc.

Trong bối cảnh phong trào đòi tự do báo chí gia tăng và Quốc hội liên tục bàn thảo nhưng chưa thống nhất việc sửa Luật Báo chí, bài viết của luật sư Nguyễn Ngọc Bích đăng trên Chính Luận tập trung phê phán điều 28a Luật Báo chí 19/69 – điều khoản về “an ninh quốc gia” được chính quyền sử dụng làm căn cứ tịch thu báo chí một cách tùy tiện. Mục tiêu của bài là đề xuất một tiêu chuẩn pháp lý rõ ràng, tiên đoán được, nhằm hạn chế sự suy diễn tùy tiện và bảo vệ vai trò thiết yếu của tự do báo chí trong một chế độ dân chủ.

Bài được đăng trên trang hai báo Chính Luận số 7-1-1975.


III. Vai trò tự do báo chí trong một Chế Độ Dân Chủ

Trong Chế Độ Dân Chủ, tự do báo chí là một trong nhiều hình thức cụ thể hóa quyền tự do ngôn luận. Quyền này sở dĩ được công nhận vì rằng tự do báo chí đóng bốn vai trò sau đây trong chế độ dân chủ: 

  1. Giúp con người đạt được sự sung mãn về mặt tinh thần. 

Cứu cánh của con người – như được chấp nhận trong tư tưởng Tây Phương – là làm sao để có thể sống đúng một đời sống con người. Con người khác con vật ở phẩm chất của trí óc. Con người có thể suy luận, biết tưởng tượng, biết dùng ngôn ngữ để thông đạt tư tưởng cùng cảm xúc, và từ đó tạo lập nền văn hóa. Qua sự phát triển các khả năng này, con người cảm thấy ý nghĩa và vị trí của mình trong thế giới.

Sự thực hiện cứu cánh bắt đầu bằng sự phát triển của bộ óc, nhưng diễn tiến tạo lập các tư tưởng không có một giới hạn nào. Không ai có thể nói tư tưởng của mình sẽ đi về đâu hay chấm dứt ở đâu. Mỗi người tuy bị ảnh hưởng bởi bạn bè, kẻ sống, người chết, nhưng trí óc của họ là cái gì của chính họ và sự hoạt động của bộ óc là một hoạt động mang tính cách cá nhân hoàn toàn.

Từ căn bản đó, mỗi người – trong sự phát triển cá tính của mình – có quyền có một niềm tin riêng, ý kiến riêng, và có quyền phát biểu các niềm tin cùng các ý kiến đó.

Nếu không con người chả còn là con người nữa. Tự do báo chí là một phần không thể tách rời khỏi – và là một cái gì phải có cho – sự phát triển tư tưởng và cá tính hóa vừa nói.

Ngoài ra, con người cũng là – nói theo Rousseau – một người xã hội. Họ sống với các người khác, cùng với các người khác tạo lập một nền văn hóa chung và họ bị chi phối bởi xã hội.  Trong vai trò một con người xã hội đó con người cũng có quyền phát biểu điều họ nghĩ, cái họ tin, vì lẽ trước hết mục đích của xã hội – hay của quốc gia – là phát triển sự an sinh của mỗi cá nhân, thứ nữa theo nguyên tắc công bằng mọi người phải có một cơ hội đồng đều để tham dự vào các quyết định chung ảnh hưởng tới họ. 

Tự do báo chí là một phương thế giúp con người phát biểu và đi tìm cùng tạo lập kiến thức, tạo lập quan điểm, thông đạt nhu cầu, phát biểu ý thích, nói tóm lại giúp họ sống đúng một đời sống con người.

  1. Giúp con người tìm thấy sự thực.

Một phán đoán hợp lý nhất và vững chắc nhất – như được nhìn nhận – là một phán đoán đạt được sau khi đã xét tất cả các sự kiện, các lý lẽ nêu ra để chống lại hay biện hộ cho lập trường. Phán đoán của con người dễ bị thay đổi. Nó bị chi phối bởi nhiều thứ: tình cảm, thành kiến, tư lợi, thông minh, ngu dốt. Nó không bao giờ ngưng lại ở một điểm chỉ do một người đưa ra, mà trái lại không bao giờ hoàn tất và có thể – do hoàn cảnh được nới rộng, gọt rũa, thêm bớt, bài bác, sửa đổi. 

Muốn thâu đạt một kiến thức, đưa ra một kết luận, đi tìm một sự thực, mỗi người phải tìm biết mọi khía cạnh của vấn đề do bất kỳ ai nêu ra, sau đó phải suy luận, tìm ra cái nào sai và đâu là sự thật. Báo chí là nơi cung cấp, phổ biến các dữ kiện cần thiết cho sự suy luận và đạt đến chân lý đó. 

3. Giúp con người tham dự vào việc tạo lập các quyết định chung. Từ thế kỷ thứ 19, các lý thuyết gia chính trị đã chủ trương phải cho mọi người tham dự vào việc tạo lập các quyết định chung. Điều đó đã trở thành một định chế căn bản của chế độ dân chủ.

Sự chấp nhận và thiết lập định chế đó đã dựa trên các ý niệm cho rằng (1) tự do ngôn luận – như đề cập ở trên – là một quyền cá nhân và (2) là một cái gì tốt cho xã hội.

Thực vậy, một sinh hoạt nào muốn được điều hành tốt đẹp thì tất cả các khía cạnh liên hệ phải được nêu lên và mọi lý lẽ phải được phát biểu để cân nhắc thảo luận. Việc nêu lý lẽ, tìm sự kiện là những công việc mà chỉ mỗi cá nhân mới có thể làm được. Bởi đó, định chế dân chủ đòi rằng mọi người phải được quyền tham dự. Sự hữu lý của đòi hỏi đó đã được John Stuart Mill diễn tả: “Nếu tất cả mọi người, trừ một người, có cùng một quan điểm, mà mọi người bắt người không đồng quan điểm phải im lặng, thì hành động của mọi người cũng khó biện minh như khi người duy nhất kia, nếu có quyền, dùng quyền của họ cấm mọi người không được lên tiếng”. Báo chí là môi trường để cho mọi lý lẽ, mọi ý kiến được phát biểu. 

Ngoài việc tạo phương tiện cho mọi người lên tiếng về một quyết định nào đó, báo chí còn là một cơ chế giúp nhà cầm quyền biết được phản ứng và hậu quả của bất cứ một biện pháp hay quyết định nào đã được đưa ra.

Tự do báo chí, nhìn trong chiều hướng đó, là một cái gì bắt buộc của mọi chế độ riêng đối với chế độ dân chủ, nó là một cái gì không thể thay thế được. 

4. Tạo một sự quân bình giữa tình trạng ổn cố và thay đổi của xã hội.

Một xã hội tốt đẹp là một xã hội có khả năng thích ứng với tình thế, và tính chất đó làm cho xã hội trở nên ổn cố. Khả năng đó chỉ có được khi xã hội cho phép mở các cuộc thảo luận công khai mà thảo luận trên báo chí là một hình thức. Thảo luận công khai tạo ra một sự quân bình giữa sự ổn cố và sự thay đổi.

Thực vậy, các định chế, các xã hội đều có khuynh hướng trở thành già cỗi và cứng nhắc. Thái độ và ý kiến trong khuynh hướng đó trở thành rập khuôn và xã hội vì thế mất đi sức sống. Kết quả là các nguyên tắc lỗi thời được áp dụng một cách độc đoán, oán hận gia tăng nhưng không được biết đến, và xã hội không còn khả năng thu nhận những khuynh hướng mới. Sự chống đối, trong một viễn ảnh như vậy sẽ đóng vai trò quan trọng trong sự quân bình hóa hay phá vỡ diễn tiến tạo lập sự đình trệ và thư lại đó.  Sự chống đối chỉ có thể phát biểu được qua các cuộc thảo luận công khai nghĩa là qua tự do báo chí.

Cấm đoán hay chèn ép các sự chống đối sẽ chỉ làm gia tăng tính chất cứng nhắc của xã hội và là một sự ngu đần hóa. Nó che dấu các vấn đề thực sự mà xã hội phải đối phó, và hướng sự quan tâm của quần chúng vào những gì không quan trọng khác.

Khi bị cấm đoán các người chống đối bị vùi dập, bị chèn ép, họ trở thành chai đá hoặc tuyệt vọng và từ đó họ dễ xử dụng đến vũ lực. Một cách vắn tắt, không cho phát biểu các sự chống đối, điều đó có nghĩa rằng khi một sự thay đổi bắt buộc phải có đối với cộng đồng, thì sự thay đổi đó sẽ xẩy đến trong một hình thức cấp tiến và bạo động.

Xét trong một chiều hướng khác, sự chống đối qua các cuộc thảo luận công khai không làm cho xã hội chia rẽ hay phân tán mà trái lại tạo ra một sự chung lưng sát cánh mạnh mẻ hơn. 

Điều này có được do việc cho nói để mọi người “xì” ra cái gì ấm ức. Kết quả là các nỗi uất ức được giảm thiểu, và các chiều hướng chống đối được lái vào một con đường phù hợp với luật lệ và trật tự chung. Kinh nghiệm cho thấy ở tòa án khi hai bên tranh tụng đã đưa ra hết các lý lẽ của mình thì họ sẽ sẵn sàng tuân hành bản án tòa tuyên. Bản án đó dù họ không thích đi nữa nhưng vẫn cảm thấy là một cái gì hợp pháp.

Tương tự như vậy, thảo luận công khai sẽ khiến mọi người chấp nhận quyết định được đưa ra và tạo nên một nền tảng hợp pháp cho chế độ chính trị. Tự do báo chí, như thế, không phải sẽ tạo ra rối loạn mà là tạo ra được một diễn biến giống như sự lên men, sửa soạn cho các sự thay đổi cần thiết về mặt xã hội và chính trị cùng giữ cho xã hội không bị đình trệ hay trở nên ngu dốt.

Nếu để tự do báo chí được hành xử một cách tuyệt đối, báo chí sẽ đóng được các vai trò vừa kể.

Tuy nhiên, trong cuộc sống hàng ngày vẫn có sự hạn chế, điều đó cho thấy tự do báo chí phải nằm ở trong một khuôn khổ nào đó mà xã hội chấp nhận. Do đó, có một vấn đề là phải làm sao hòa hợp tự do báo chí với cái gì mà xã hội theo đuổi khi hạn chế nó. Trên thực tế, báo chí được tự do hay hạn chế, xét kỹ, chỉ là một biện pháp mà một nhóm người này áp đặt lên một nhóm người khác. Như thế nếu chỉ xét vai trò tự do báo chí có thể đóng góp mà không xem đến động lực cấm đoán hay hạn chế nó, tiêu chuẩn đưa ra ắt sẽ thiếu sót. Phần thứ tư của bài này, do đó, sẽ tìm xem những động lực muốn giới hạn tự do báo chí.

Một đất nước chỉ trưởng thành khi lịch sử được ghi nhớ một cách trung thực và trọn vẹn.

Đó là lý do Luật Khoa thực hiện Dự án 1975, nhằm tái hiện lại năm 1975 qua những bản tin hàng tuần – theo báo chí miền Bắc, miền Nam và quốc tế, lời kể của nhân chứng từ cả hai phía của cuộc chiến.

Ủng hộ Quỹ Nghiên cứu Việt Nam Cộng hòa để Dự án 1975 tiếp tục lan tỏa.

Mỗi khoản đóng góp dù lớn hay nhỏ đều giúp ích cho các tác giả viết tiếp và làm sáng tỏ thêm phần lịch sử còn nhiều tranh cãi này của đất nước chúng ta.

Bình luận

Discover more from Luật Khoa 1975

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading